Từng bước hình thành nền tảng dữ liệu toàn ngành
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao thực hiện 21 cơ sở dữ liệu, 4 hệ thống thông tin. Hiện nay, 4 hệ thống thông tin đã được xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng ; 21 cơ sở dữ liệu đã được xây dựng và đang tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện để từng bước đáp ứng đầy đủ các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành bao phủ lĩnh vực trọng yếu như đất đai, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, môi trường, lâm nghiệp, thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi… Qua đó, từng bước định hình hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước theo hướng hiện đại, lấy dữ liệu làm nền tảng.
Cơ sở dữ liệu đất đai đang được triển khai đồng bộ tại nhiều địa phương. Ảnh: NNMT.
Thực tế triển khai cho thấy, nhiều cơ sở dữ liệu quy mô lớn đã được xây dựng và đưa vào khai thác hiệu quả. Đáng chú ý, cơ sở dữ liệu đất đai đang được triển khai đồng bộ tại nhiều địa phương, với hàng triệu hồ sơ địa chính được số hóa, tích hợp vào hệ thống bản đồ số. Nhờ vậy, thời gian tra cứu, cấp giấy chứng nhận được rút ngắn đáng kể, đồng thời góp phần minh bạch hóa thông tin. Trong khi đó, ở lĩnh vực khí tượng thủy văn, hệ thống quan trắc tự động tiếp tục được mở rộng với hàng trăm trạm đo trên phạm vi cả nước, cung cấp dữ liệu thời gian thực phục vụ công tác dự báo và cảnh báo thiên tai.
Không dừng lại ở đó, trong lĩnh vực môi trường, mạng lưới quan trắc tự động không khí và nước thải đã được kết nối về trung tâm điều hành, giúp cơ quan quản lý giám sát liên tục, kịp thời phát hiện các điểm nóng ô nhiễm. Song song với đó, trong nông nghiệp, dữ liệu về sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản cũng đang được cập nhật thường xuyên, hỗ trợ hiệu quả cho công tác chỉ đạo mùa vụ, phòng chống dịch bệnh và điều tiết thị trường.
Cùng chiều hướng này, công tác số hóa được đẩy mạnh trên diện rộng. Nhiều địa phương đã hoàn thành số hóa hồ sơ đất đai, xây dựng bản đồ địa chính số, từng bước hình thành kho dữ liệu điện tử phục vụ quản lý và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đây chính là tiền đề quan trọng để chuyển đổi từ phương thức quản lý thủ công sang quản lý số.
Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ thông tin cũng từng bước được đầu tư, nâng cấp theo hướng đồng bộ. Các trung tâm dữ liệu, nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu cấp bộ đã dần hình thành, cho phép kết nối, trao đổi dữ liệu giữa các đơn vị trong ngành, đồng thời từng bước liên thông với nền tảng dữ liệu quốc gia. Thực tế cho thấy, một số hệ thống đã triển khai kết nối thử nghiệm và bước đầu phát huy hiệu quả trong điều hành.
Đặc biệt, việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS), Internet vạn vật (IoT) đã góp phần nâng cao chất lượng, độ chính xác và tính cập nhật của dữ liệu. Cụ thể, dữ liệu viễn thám được sử dụng để giám sát biến động rừng, theo dõi hạn hán, xâm nhập mặn; dữ liệu khí tượng được tích hợp vào sản xuất nông nghiệp nhằm dự báo mùa vụ; trong khi đó, dữ liệu môi trường hỗ trợ cảnh báo sớm rủi ro trong nuôi trồng thủy sản.
Ở một góc độ khác, một số mô hình kết nối dữ liệu liên ngành đã bước đầu phát huy hiệu quả, cho thấy giá trị rõ rệt của việc khai thác dữ liệu tổng hợp. Điều này khẳng định rằng, dù chưa hoàn chỉnh, hệ thống cơ sở dữ liệu ngành đã chuyển từ giai đoạn “xây dựng” sang “vận hành và khai thác”, qua đó tạo nền tảng quan trọng cho quản trị hiện đại trong thời gian tới.
Điểm nghẽn từ công nghệ đến thể chếDù đạt được những kết quả bước đầu, quá trình xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn. Trước hết, vấn đề cơ chế, chính sách vẫn là rào cản lớn. Hiện nay, các quy định liên quan đến quản lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu chưa đầy đủ, thiếu tính thống nhất, khiến việc triển khai còn lúng túng và chưa đồng bộ giữa các đơn vị.
Ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng, độ chính xác và tính cập nhật của dữ liệu. Ảnh: NNMT.
Không những vậy, nguồn lực đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin và xây dựng dữ liệu vẫn còn hạn chế, trong khi yêu cầu thực tiễn ngày càng cao. Tại nhiều địa phương, hệ thống kỹ thuật chưa đáp ứng được nhu cầu lưu trữ, kết nối và xử lý dữ liệu lớn.
Cùng với đó, bài toán nhân lực cũng đặt ra không ít thách thức. Đội ngũ cán bộ làm công tác dữ liệu vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về chuyên môn, chưa theo kịp yêu cầu của quá trình chuyển đổi số.
Mặt khác, việc thiếu chuẩn hóa dữ liệu và chưa có nền tảng kết nối thống nhất cũng khiến các cơ sở dữ liệu khó liên thông, chia sẻ. Hệ quả là hiệu quả khai thác chưa cao, thậm chí còn gây lãng phí trong đầu tư và vận hành hệ thống.
Hướng tới hệ sinh thái dữ liệu mở, liên thông và thông minhĐể khắc phục những tồn tại trên, ngành nông nghiệp và môi trường đang định hướng chuyển từ xây dựng cơ sở dữ liệu đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái dữ liệu đồng bộ.
Song song đó, việc chuẩn hóa dữ liệu cần được đẩy mạnh, thông qua xây dựng danh mục dùng chung và hệ thống mã định danh thống nhất. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, việc tích hợp và khai thác sẽ trở nên thuận lợi hơn.
Ngành cũng sẽ tập trung xây dựng nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu, kết nối với hệ thống quốc gia, bảo đảm dữ liệu được luân chuyển thông suốt giữa các cấp, các lĩnh vực.
Về lâu dài, hạ tầng công nghệ tiếp tục được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại, an toàn và có khả năng mở rộng. Đồng thời, các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn sẽ được ứng dụng sâu hơn để gia tăng giá trị dữ liệu.
Một định hướng quan trọng là phát triển dữ liệu mở, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tham gia khai thác, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ sẽ đóng vai trò then chốt, quyết định hiệu quả vận hành hệ thống dữ liệu trong dài hạn.
Có thể thấy, việc xây dựng 13 cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường là bước đi quan trọng trong lộ trình chuyển đổi số. Dù phía trước vẫn còn nhiều thách thức, song những kết quả đạt được bước đầu đã tạo nền tảng vững chắc. Khi hệ thống dữ liệu được hoàn thiện và kết nối đồng bộ, ngành sẽ có thêm công cụ mạnh mẽ để quản lý hiệu quả tài nguyên, nâng cao năng lực dự báo, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và bền vững.
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường