Thay đổi này được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là bước tiến đáng kể trong cải cách thủ tục hành chính, nhưng cũng đặt ra một câu hỏi lớn. Khi tiền kiểm được gỡ bỏ, cơ chế nào sẽ thay thế để bảo đảm chất lượng sản phẩm và duy trì môi trường cạnh tranh công bằng trên thị trường phân bón?
Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nghiêm Quang Tuấn phát biểu khai mạc phiên họp. Ảnh: Bảo Thắng.
Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểmNhiều năm qua, ngành phân bón là một trong những lĩnh vực chịu sự quản lý chặt chẽ với hàng loạt thủ tục từ lưu hành, sản xuất, nhập khẩu đến khảo nghiệm và công bố chất lượng. Tuy nhiên, cùng với chủ trương cải cách điều kiện đầu tư kinh doanh và quản lý theo mức độ rủi ro, nhiều quy định đã được cắt giảm hoặc đơn giản hóa.
Ông Vũ Thắng, Phó Trưởng phòng Phụ trách Quản lý phân bón (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) cho biết tại buổi làm việc với Hiệp hội Phân bón Việt Nam cùng đại diện các doanh nghiệp trong ngành sáng 23/6, rằng các văn bản quy định pháp luật sửa đổi gần đây đã chuyển cách tiếp cận từ quản lý theo nhóm hàng hóa sang quản lý theo mức độ rủi ro.
Nếu phân bón được xác định thuộc nhóm hàng hóa rủi ro trung bình theo danh mục đang được xây dựng, doanh nghiệp có thể thực hiện tự đánh giá sự phù hợp trên cơ sở kết quả thử nghiệm của các phòng thử nghiệm được công nhận và thực hiện công bố hợp quy theo phương thức điện tử.
Theo ông Thắng, mục tiêu của thay đổi không phải giảm yêu cầu về chất lượng sản phẩm mà là giảm các thủ tục trung gian, chuyển dần từ quản lý hồ sơ sang quản lý dữ liệu và truy xuất.
Hệ thống mã số phân bón, cơ sở dữ liệu quốc gia và các công cụ hậu kiểm đang được xây dựng theo hướng hỗ trợ cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm trong suốt vòng đời lưu thông thay vì tập trung vào khâu trước khi đưa ra thị trường.
Ông Tuấn cho rằng, điều quan trọng nhất là xây dựng được hành lang pháp lý vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn chân chính, vừa loại bỏ được các hành vi sản xuất, kinh doanh phân bón giả, phân bón kém chất lượng. Ảnh: Bảo Thắng.
Việc cắt giảm thủ tục được đánh giá là phù hợp với xu thế chung. Chi phí tuân thủ giảm, thời gian đưa sản phẩm ra thị trường ngắn hơn và nguồn lực quản lý nhà nước cũng được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cùng với sự đồng thuận về chủ trương cải cách là những băn khoăn về cách vận hành cơ chế hậu kiểm.
Đây cũng là nội dung được nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước đặc biệt quan tâm. Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền thông tin, các nhà máy sản xuất hiện phải thực hiện quy trình kiểm soát chất lượng đối với từng lô hàng trước khi đưa ra thị trường. Mỗi lô sản phẩm đều được lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu công bố và lưu mẫu để phục vụ truy xuất khi cần thiết.
Theo ông, nếu hàng nhập khẩu được miễn kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu thì cần có cơ chế tương đương về hồ sơ kỹ thuật, lưu mẫu, công khai thông tin và truy xuất nguồn gốc để bảo đảm sự công bằng giữa các chủ thể tham gia thị trường.
Theo số liệu được doanh nghiệp nêu tại cuộc trao đổi, riêng phân bón NPK nhập khẩu năm 2025 đã vượt 800.000 tấn, với số lượng doanh nghiệp tham gia nhập khẩu rất lớn. Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra không chỉ là giảm thủ tục cho doanh nghiệp mà còn là khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm sau khi đã lưu thông trên thị trường.
Quan điểm này cũng nhận được sự đồng tình từ phía Hiệp hội Phân bón Việt Nam. Ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký cho rằng, quá trình đơn giản hóa không nên đồng nghĩa với việc hạ thấp các hàng rào kỹ thuật.
"Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vẫn phải được xem là nền tảng quản lý chất lượng, còn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sản phẩm đưa ra thị trường cần được xác định rõ hơn trong cơ chế mới", ông chia sẻ.
Ông Vũ Thắng cho biết, hệ thống mã số phân bón, cơ sở dữ liệu quốc gia và các công cụ hậu kiểm sẽ được xây dựng theo hướng hỗ trợ cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm suốt vòng đời lưu thông. Ảnh: Bảo Thắng.
Đảm bảo truy xuất, trách nhiệm giải trình và dữ liệu thị trườngTại buổi họp, ông Nguyễn Hồng Phong, Tổng Giám đốc Công ty CP Công Nông nghiệp Tiến Nông cho rằng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) vẫn cần được duy trì như một hàng rào kỹ thuật để bảo đảm chất lượng phân bón lưu thông trên thị trường.
Theo ông, việc cắt giảm các thủ tục hành chính mang tính hình thức là cần thiết, song những công cụ quản lý gắn với chất lượng sản phẩm cần được thực hiện nghiêm túc nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp.
Đại diện doanh nghiệp này cũng đề xuất, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục, cơ quan quản lý cần rà soát và loại bỏ các sản phẩm phân bón không còn sản xuất hoặc kinh doanh trong thời gian dài. Theo ông, việc một số doanh nghiệp giữ mã số lưu hành nhưng không hoạt động thực tế khiến cơ sở dữ liệu thị trường thiếu chính xác, đồng thời làm giảm hiệu quả của công tác quản lý và hậu kiểm.
Ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.
Ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật nhấn mạnh mục tiêu của cải cách, không phải là giảm trách nhiệm quản lý nhà nước mà là thay đổi phương thức quản lý. Trong đó, điều quan trọng nhất là xây dựng được hành lang pháp lý vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn chân chính, vừa loại bỏ được các hành vi sản xuất, kinh doanh phân bón giả, phân bón kém chất lượng.
Thực tế cho thấy phần lớn các vụ vi phạm nghiêm trọng thời gian qua không xuất phát từ các doanh nghiệp sản xuất được cấp phép đầy đủ mà từ các cơ sở hoạt động trái phép, sản xuất nhỏ lẻ và né tránh kiểm tra.
Điều này khiến hiệu quả quản lý không còn phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng thủ tục hành chính mà phụ thuộc nhiều hơn vào năng lực giám sát thị trường, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm sau khi hàng hóa lưu thông.
Câu chuyện của ngành phân bón nhìn rộng hơn không đơn thuần là giữ hay bỏ một thủ tục kiểm tra chất lượng tại cửa khẩu. Vấn đề cốt lõi là xây dựng được cơ chế hậu kiểm đủ tin cậy để thay thế vai trò của tiền kiểm.
Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền. Ảnh: Bảo Thắng.
Trong cơ chế đó, doanh nghiệp được trao nhiều quyền chủ động hơn nhưng cũng phải chịu trách nhiệm lớn hơn. Cơ quan quản lý giảm can thiệp vào từng lô hàng nhưng phải tăng khả năng giám sát bằng dữ liệu, truy xuất và cảnh báo rủi ro.
Việc phân bón nhập khẩu không còn phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu từ ngày 1/7 có thể là thay đổi dễ nhận thấy nhất của đợt cải cách lần này. Tuy nhiên, thành công của chính sách sẽ không được đo bằng số lượng thủ tục được bãi bỏ, mà bằng khả năng tạo ra một hệ thống hậu kiểm đủ mạnh để bảo vệ chất lượng vật tư đầu vào, bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước. Đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý trong giai đoạn phát triển mới của ngành nông nghiệp.
Từ ngày 1/7, nhiều quy định quản lý phân bón được đơn giản hóa theo Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP. Đáng chú ý nhất, thủ tục kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón nhập khẩu chính thức được bãi bỏ. Điều kiện buôn bán phân bón theo Điều 42 Luật Trồng trọt cũng không còn được áp dụng.
Thời hạn Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam được nâng từ 5 năm lên 10 năm và tiếp tục được gia hạn. Đối với các quyết định lưu hành còn hiệu lực trước ngày 1/7, sau khi hết hạn sẽ được kéo dài thêm 5 năm.
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường