Giúp nông dân hiểu và sử dụng các công cụ tài chính
Một trong những hoạt động cải thiện khả năng tiếp cận các công cụ tài chính giúp nông dân ứng phó với biến đổi khí hậu mà Việt Nam đang thực hiện là Dự án “Sáng kiến tài trợ rủi ro biến đổi khí hậu cho ngành nông nghiệp tại Việt Nam” (AgriCRF) do Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) và Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn phối hợp thực hiện.

Theo ông Julian Tost, sáng kiến tài trợ rủi ro khí hậu trong nông nghiệp đang được triển khai trên quy mô 10 quốc gia ASEAN, với các mô hình thí điểm tại Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Ảnh: Trung Hiếu.
Chia sẻ tại hội thảo chào mừng 80 năm Ngày Hợp tác xã Việt Nam và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về tài trợ rủi ro khí hậu trong nông nghiệp diễn ra ngày 8/4, ông Julian Tost, Giám đốc dự án AgriCRF của GIZ cho biết, cách tiếp cận của dự án không dừng ở việc xây dựng sản phẩm tài chính mà triển khai đồng thời ba trụ cột: phát triển nguồn cung các công cụ tài chính rủi ro khí hậu, nâng cao năng lực cho nông dân và tổ chức trung gian, đồng thời gắn các công cụ này với tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp bền vững, bao gồm yếu tố bình đẳng giới.
“Điểm khác biệt là chúng tôi không chỉ đưa ra một sản phẩm, mà là một gói giải pháp gồm tài chính, công nghệ và đào tạo”, ông nói.
Trong ba năm triển khai, dự án đã phát triển bốn sản phẩm tại ba quốc gia. Tại Indonesia, bảo hiểm chỉ số thời tiết cho cây ca cao được thiết kế dựa trên dữ liệu lượng mưa, cho phép chi trả tự động khi đạt ngưỡng, thay vì đánh giá thiệt hại thủ công. Tại Thái Lan, một công cụ đánh giá rủi ro ESG được đưa vào hệ thống ngân hàng để hỗ trợ cho vay nông nghiệp thích ứng khí hậu.

Tín dụng xanh cho nông hộ nhỏ và ứng dụng số đánh giá tín dụng sẽ giúp đơn giản hóa quy trình vay vốn và giảm rào cản tiếp cận tài chính, đặc biệt với phụ nữ và nông dân quy mô nhỏ. Ảnh: Trung Hiếu.
| Dự án AgriCRF đang được triển khai trên quy mô 10 quốc gia ASEAN, với các mô hình thí điểm tại Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Tại Việt Nam, Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức tài trợ khoảng 4 triệu euro kéo dài từ năm 2023 đến 2025. |
Ở Việt Nam, hai sản phẩm được thử nghiệm gồm tín dụng xanh cho nông hộ nhỏ và ứng dụng số đánh giá tín dụng, giúp đơn giản hóa quy trình vay vốn và giảm rào cản tiếp cận tài chính, đặc biệt với phụ nữ và nông dân quy mô nhỏ.
Song song, hơn 17.000 nông dân đã được đào tạo về tài chính và bảo hiểm, trong đó khoảng một nửa là phụ nữ. Theo khảo sát của dự án, hơn 75% người tham gia cho biết khả năng chống chịu trước rủi ro khí hậu đã được cải thiện.
Tuy nhiên, theo ông Tost, những con số này mới phản ánh một phần của vấn đề. “Phát triển sản phẩm tài chính không phải là phần khó nhất. Thách thức lớn hơn là làm sao để nông dân hiểu và sử dụng được chúng”, ông nói.
Hợp tác xã đóng vai trò trung gian, kết nối
Thực tế triển khai cho thấy đào tạo trên lớp có thể giúp nâng cao nhận thức, nhưng chưa đủ để thay đổi hành vi. Để nông dân thực sự áp dụng, cần có các hoạt động tư vấn, theo dõi tại hộ gia đình và hỗ trợ liên tục sau đào tạo.
Ví dụ tại Indonesia, dự án được triển khai thông qua đối tác Edufarmers, tập trung vào đào tạo quản lý tài chính thích ứng khí hậu cho các hộ trồng ca cao. Chương trình không chỉ cung cấp kiến thức mà được thiết kế như một quá trình thay đổi hành vi ở cấp hộ gia đình.

Việc nâng cao hiểu biết tài chính không đồng nghĩa với việc nông dân sẽ ngay lập tức sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức. Ảnh: Trung Hiếu.
Nông dân được đào tạo về quản lý tài chính, tác động của biến đổi khí hậu và cách sử dụng các công cụ như bảo hiểm chỉ số thời tiết. Đồng thời, các nội dung về canh tác thích ứng khí hậu, như thực hành nông nghiệp tốt và tiết kiệm nước, cũng được lồng ghép vào chương trình.
Tuy nhiên, một bài học quan trọng được rút ra là việc nâng cao hiểu biết tài chính không đồng nghĩa với việc nông dân sẽ ngay lập tức sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức. Khả năng tiếp cận còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện thị trường, hệ thống tài chính và mức độ sẵn sàng của các tổ chức cung cấp dịch vụ.
Trong bối cảnh đó, hợp tác xã được xem là một mắt xích quan trọng. Theo ông Tost, tại các nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, hợp tác xã đóng vai trò trung gian giúp kết nối dự án với nông dân.
“Hợp tác xã giống như một ‘bộ tăng tốc’. Chúng tôi có thể làm việc với một đầu mối, và họ sẽ truyền đạt lại cho các thành viên, đồng thời tham gia trực tiếp vào đào tạo”, ông nói.

Để các mô hình tài chính rủi ro khí hậu thực sự phát huy hiệu quả, cần nhiều hơn các sản phẩm phù hợp với thực tế sản xuất. Ảnh: Trung Hiếu.
Bà Nguyễn Thị Minh Thùy, Giám đốc Hợp tác xã Lục Ngạn Xanh (Bắc Ninh), cho biết hợp tác xã hiện có hơn 20 thành viên, sản xuất các loại cây ăn quả như vải thiều, cam, quýt, bưởi với tổng diện tích hơn 15 ha.
Theo bà, những năm gần đây, sản xuất phụ thuộc ngày càng lớn vào thời tiết, khiến rủi ro tăng cao. Ngoài biến động thị trường, thiên tai còn khiến sản xuất bị gián đoạn, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và kế hoạch sản xuất. Khi rủi ro xảy ra, nông dân gần như phải tự gánh chịu, do các công cụ hỗ trợ còn hạn chế hoặc khó tiếp cận.
Năm 2025, hợp tác xã được hỗ trợ kết nối với doanh nghiệp để mở rộng đầu ra, nhưng theo bà Thùy, đây mới chỉ là giải pháp về thị trường. “Cái khó nhất vẫn là làm sao giảm rủi ro trong sản xuất”, bà nói.
Theo các chuyên gia, để các mô hình tài chính rủi ro khí hậu thực sự phát huy hiệu quả, cần nhiều hơn các sản phẩm phù hợp với thực tế sản xuất, đồng thời phải đi kèm đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và hệ thống triển khai tại địa phương.
Việc mở rộng các mô hình thí điểm hiện nay sang quy mô lớn hơn sẽ phụ thuộc vào sự phối hợp giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và các tổ chức tài chính, cũng như khả năng kết nối ở cấp khu vực ASEAN.
|
Bài toán nằm ở 'hiểu và dùng' Trao đổi với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường bên lề Hội thảo, ông Julian Tost cho rằng yếu tố quyết định hiệu quả của các mô hình tài chính rủi ro khí hậu nằm ở nhận thức của người sử dụng. “Nhiều nông dân có ghi chép thu chi, có đầu tư sản xuất, nhưng chưa thực sự hiểu khoản vay giúp họ như thế nào, hoặc cách bảo hiểm hoạt động ra sao - họ phải đóng phí và sẽ được chi trả khi có rủi ro”, ông nói. Theo đại diện GIZ, các công cụ tài chính cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư cho khả năng chống chịu và sinh kế lâu dài, thay vì chi phí ngắn hạn. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua đào tạo và quá trình trao đổi trực tiếp với nông dân. |
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường