Sau sáp nhập, xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang trải dài 37 thôn bản. Đất rộng hơn, người đông hơn, đá cũng dày thêm. Đá xếp lên đá, núi chồng lên núi, khiến câu chuyện thoát nghèo cứ hun hút như những dãy núi trùng điệp. Từ Má Lầu A đến Ma Lé, Thèn Pả…, những bản người Mông nép mình bên sườn đá. Ở đâu có đá, ở đó có người Mông. Họ nghèo vì đá, mà cũng gan góc, bền bỉ như đá.
Một góc xã Lũng Cú hôm nay. Ảnh: Đào Thanh.
Cán bộ “gánh” việc cùng dânNhững ngày đầu thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Lũng Cú nằm ở vị trí 75 về chỉ số dịch vụ công. Bí thư Đảng ủy xã Lũng Cú Dương Ngọc Đức cùng tập thể cán bộ ngồi bàn và nhìn lại, lần theo từng nút thắt, xem vướng ở chỗ nào, dân chưa hiểu hay cán bộ chưa gần?
Anh luôn dặn cán bộ của mình: “Làm việc với dân, khi họ còn nóng, cứ mời nước, mời kẹo trước đã…”. Khi lòng người dịu lại, cái lý mới tìm được chỗ đứng.
Rồi những đội xung kích lên đường. Họ men theo triền đá tai mèo sắc nhọn, vượt dốc, băng đèo, mang việc đến mỗi nhà, ngồi xuống bên bếp lửa, kiên nhẫn “cầm tay chỉ việc” cho bà con biết cách nộp hồ sơ, cách làm dịch vụ công. Tiếng Mông của cán bộ còn vụng, nhưng cái tình thì đủ ấm để kết nối niềm tin.
Ở Lũng Cú, cán bộ không chỉ làm việc, mà “gánh” việc cùng dân. Gánh từng téc nước qua mùa khô, gánh từng bao xi măng dựng lại mái nhà xiêu vẹo, có khi lội suối cả ngày chỉ để mở một lối đi vào bản. Khi đã cùng nhau đổ mồ hôi, lời nói trở nên có sức nặng, những con đường từ lòng dân cũng dần được mở.
Bí thư Đảng ủy xã Lũng Cú Dương Ngọc Đức (ở giữa) tham quan mô hình phát triển sản phẩm thủ công truyền thống trên địa bàn. Ảnh: LC.
Từ Ma Lé, Lũng Tao, Lô Lô Chải… những con đường bê tông nhỏ xíu có sự chúng sức của dân bản không chỉ đến trung tâm thôn mà còn trườn mình qua sườn núi, len đến từng nhóm hộ gia đình.
Bí thư Đức bảo rằng, mỗi lần đi về các thôn bản, câu chuyện đều quay về với chủ đề nước. Nước cho chăn nuôi, giặt giũ, tắm rửa đã thiếu, nước ăn lại càng khốn khó. Ở đây mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau. Thiếu nước, mọi giấc mơ phát triển đều bị bó chặt lại.
Không chờ đợi, Bí thư Đức cùng cán bộ lại lên đường. Những chuyến đi nối tiếp những chuyến đi, băng rừng, vượt núi, lần theo từng khe đá, từng dấu ẩm mong manh. Và rồi, đến tháng 3 vừa rồi, tin vui đã về, một mạch nước cách trung tâm xã chừng 5km được phát hiện.
Giữa khô khát đó là mạch sống. Từ mạch nước ấy, người ta bắt đầu hình dung những đường ống dẫn về bản, những thửa ruộng xanh hơn, những mùa vụ bớt nhọc nhằn, thậm chí cả một tương lai du lịch đang dần thành hình.
Lãnh đạo xã Lũng Cú, kiểm tra tiến độ thi công các công trình trọng điểm trên địa bàn. Ảnh: LC.
Từ cách làm rất vùng cao như thế, Lũng Cú đã bước ra khỏi phía sau. Chỉ số cải cách thủ tục hành chính của Lũng Cú từ vị trí thứ 75 lên 45, rồi 35, 11 và tháng 3 vừa rồi xã xếp ở vị trí thứ 3.
Bí thư Dương Ngọc Đức bảo rằng, khi cán bộ biết cúi xuống gần dân, thì con đường đi lên tự khắc mở ra giữa đá núi.
Bước ra khỏi đói nghèoLũng Cú dốc lớn, đá xẻ núi thành từng mảnh nương nhỏ. Hơn 300ha lúa nằm lọt thỏm giữa trùng điệp đá xám, còn lại là nương ngô bạc màu. Mùa khô kéo dài, nước hiếm như tìm một hộ khá giữa bản.
Đất ít, đường xa… cái nghèo bám riết, khiến gần nửa số hộ dân trong xã vẫn chật vật qua ngày.
Ở đây, ngô có hai giống, ngô bản địa và ngô lai. Ngô bản địa hạt cứng, để lâu không mốc mọt, nhưng ít hạt, chưa qua hết vụ đã “chạy” sạch khỏi cái khuẩy tấu treo góc bếp. Ngô lai thì bắp to, xanh tốt, nhưng hạt mềm, dễ bị mọt đục rỗng. Thế nên, nhiều gia đình vẫn chọn cái chắc bụng hơn cái nhiều hạt.
Trên cao nguyên đá, cây ngô đã đi cùng người Mông qua bao mùa mưa gió. Ngô thành mèn mén, thành bữa ăn, thành ký ức. Nhưng cây ngô, dẫu bền bỉ, cũng không đủ sức kéo cái nghèo rời khỏi lưng núi.
Lãnh đạo xã Lũng Cú cùng chuyên gia Nguyễn Lân Hùng tham quan mô hình trồng lê tại địa phương. Ảnh: Đào Thanh.
Tôi hỏi: Gian khó thế, có thoát nghèo được không?
Bí thư Dương Ngọc Đức đáp gọn: Phải thoát chứ!
Từ đầu năm 2025 đến nay, tỷ lệ nghèo của xã đã giảm được 5,2%. Con số không lớn, nhưng thật. Thật như bàn chân trần bám đá mà đi.
Những ngày không vướng công việc hành chính, anh Đức chọn về bản. Cùng cán bộ, anh lội suối, trèo dốc, đo lại từng khoảnh đất, tính lại từng mùa vụ. Có ngày anh đi bộ từ trung tâm xã qua Séo Lủng, sang Cẳng Tằng, dọc theo mốc biên giới 428. Đến khi chiều buông, niềm vui lấn át cái mệt khi một vùng đất rộng hàng chục ha, thổ nhưỡng khá màu mỡ, đã được phát hiện.
Trong ánh hoàng hôn biên cương cao nguyên, anh nhìn thấy không chỉ đất mà là tương lai. Một vùng đất có thể sinh ra những mùa nông sản tốt tươi, nếu một con đường kiên cố được mở.
Giống như Bí thư Đức, cán bộ xã Lũng Cú xuống bản không chỉ mang theo kế hoạch, mà mang theo tình thân. Thôn bản thành nhà, người dân thành người thân. Cứ thế, khoảng cách dần được kéo lại. Tình người đan cài bền chặt, như những sợi lanh se thành tấm vải, càng dệt càng bền.
Nhiều vườn lê đã bén đất xã Lũng Cú phát triển xanh tốt, sai quả, hứa hẹn cải thiện đời sống người dân vùng cao nguyên. Ảnh: Đào Thanh.
Bên bếp lửa, câu chuyện “đánh đuổi cái nghèo” kéo dài qua hết ấm nước chè này đến chén rượu ngô khác, chưa khi nào muốn dứt.
Chị Đàm Thị Thu Hiền, cán bộ nông nghiệp xã Lũng Cú gắn đời mình với đá núi. Chị hiểu người Mông như cây ngô hiểu đá núi.
Bởi thế, khi chuyên gia nông nghiệp Nguyễn Lân Hùng cùng đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang lên làm việc tại xã Lũng Cú, bao nhiêu dân bản nhờ chị đứng lên hỏi thay tiếng lòng: rằng làm sao để giống lúa Khẩu mang đặc sản của địa phương vẫn cho gạo thơm mà nhiều bông? Vì sao gừng sang vụ thứ hai lại hụt sức? Trên đất nắng gió này, có trồng được óc chó, dẻ, hồi… để đổi đời hay không?
Vượt đá quen chân, bám bản quen mặt, chị hiểu cái thiếu của dân. Nhưng chị cũng nhìn thấy cái có của vùng đất cao nguyên này. Đó là cây lê đã bén rễ. Óc chó đã lên xanh. Bò Mông cho thịt thơm. Gà đen quý cũng đã sống được ở mỗi góc nhà… Nhiều thứ đã có, nhưng chưa kịp thành của. Chọn cây gì, nuôi con gì… không chỉ là chuyện sản xuất. Đó là chuyện lựa chọn con đường tương lai.
Cây dẻ hạt lớn cũng được trồng thử nghiệm trên vùng đất này, hứa hẹn mang lại sự đổi thay cho nông nghiệp địa phương. Ảnh: LC.
Theo gợi ý của chuyên gia Nguyễn Lân Hùng và đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Môi trường lên làm việc với xã, chị Hiền đã tham mưu cho Bí thư Đức cùng chính quyền xã Lũng Cú đưa cây lê, mận, óc chó, dẻ vào chương trình kế hoạch phát triển. Con bò Mông, con dê, lợn, gà đen cũng được gây đàn.
Chị Hiền bảo rằng, trồng cây lâu năm cần có thời gian 5 đến 6 năm mới cho quả. Trong khi trước mắt, dân vẫn cần bát mèn mén nóng để no bụng. Thế nên, xã chọn cách lấy ngắn nuôi dài. Gừng, lạc được trồng dưới tán cây. Gà, lợn được nuôi để có cái ăn, cái bán trước mắt.
Từ những bước đi như thế, các nhà bắt đầu xôn xao chuyện nhen nhóm thành lập các tổ hợp tác làm kinh tế, doanh nghiệp bắt đầu tìm đến xã để đầu tư phát triển. Gần 140ha gừng liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân đã bén rễ trên đá. Có gia đình thoát nghèo từ chính thứ cây từng bị nghĩ chỉ hợp vùng thấp. Diện tích trồng ớt xanh quy mô trên 5ha đã được khảo sát và chuẩn bị gieo trồng…
Giữa gió núi khô khát, những mầm xanh đang nhú lên, chậm thôi nhưng bền bỉ. Như cách mà cán bộ xã và người dân vùng cao nguyên đi qua gian khó, từng bước, từng mùa!
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường