|
LTS: Sau sáp nhập,Tuyên Quang đứng trước một vận hội đặc biệt để tái cấu trúc không gian phát triển nông nghiệp. Lãnh đạo tỉnh đã có nhiều chương trình làm việc với các xã, ngành, lắng nghe từ thực tiễn ruộng nương đến nếp nghĩ của người dân, để cùng định hình một hướng đi căn cơ, là chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo cách làm bài bản, rõ cây, rõ con, rõ vùng, rõ diện tích, rõ người làm, hướng tới giá trị bền vững và lâu dài. Từ những chủ trương đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường Tuyên Quang đã triển khai nhiều chương trình tham quan, học tập thực tế, đưa tri thức đến gần hơn với người dân bản làng. Đặc biệt, các cuộc tọa đàm giữa người dân vùng cao nguyên đá với chuyên gia nông nghiệp Nguyễn Lân Hùng không chỉ truyền đạt kinh nghiệm mà còn khơi dậy một dòng chảy mới trong tư duy sản xuất. Để những con người nhỏ bé nơi bản làng vùng cao bắt đầu muốn nghĩ khác, làm khác, muốn nuôi dưỡng khát vọng vươn lên thoát nghèo, làm giàu ngay trên miền đá xám khắc nghiệt của mình. |
Ở xứ nhọc nhằn
Mua Thị Sử, người phụ nữ Mông sinh năm 1991, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Pẩy Lủng, xã Đồng Văn rời nhà khi sương sớm còn vương trên những mỏm đá tai mèo sắc lạnh.
Con đường hơn sáu cây số đến nhà văn hóa, với người miền xuôi có thể chỉ là một quãng đi, nhưng với Sử là chuỗi dốc dựng đứng, là những lối mòn nhỏ như sợi chỉ vắt ngang lưng núi. Đôi chân ấy đã quen với đá, với gió, quen cả cái khắc nghiệt hun đúc từ thuở còn nằm gọn trên lưng mẹ lên nương, nên chị không ngại. Sử đi, để nghe chuyên gia Nguyễn Lân Hùng nói chuyện, để tìm xem trên mảnh đất cằn cỗi này, nên trồng cây gì, nuôi con gì cho bớt đói, bớt nghèo.
Cao nguyên đá Tuyên Quang, hùng vỹ tuyệt đẹp nhưng đầy gian nan. Ảnh: Đào Thanh.
Ngôi nhà Sử nép mình bên sườn núi, trước mặt là nương đá xám ngoét kéo dài đến tận chân trời. Mỗi mùa gieo hạt, hai vợ chồng cặm cụi mang theo hai chục cân giống, nhặt từng hốc đất hiếm hoi giữa đá mà gieo, mà gửi gắm hy vọng.
Nhưng cả vụ, cũng chỉ thu về chừng bảy chục bao ngô, thứ lương thực nuôi sáu miệng ăn chẳng đủ qua vài tháng. Hết ngô lại xuống chợ mua gạo, rồi quay về với những công việc chắp vá: Sử nấu cơm cho học sinh, thêu thùa kiếm thêm đồng bạc lẻ. Chồng chị, anh Vàng Mí Sính, vừa là Bí thư Chi bộ thôn, vừa tranh thủ nấu rượu bán cho khách du lịch, thêm việc bán nước, bán kem… Từng đồng gom góp lại, cũng chỉ vừa đủ đong đầy những bữa cơm đạm bạc.
Mua Thị Sử giống như bao người phụ nữ Mông khác luôn lam lũ với cây ngô, nương đá. Ảnh: Đào Thanh.
Ở Pẩy Lủng, đất ít hơn đá, cày không nổi, bừa cũng không xong. Mỗi người giữ một mảnh nương, sống nhờ trời, nhờ mưa, nhờ đôi tay cần mẫn. Sáu tháng mới có một mùa ngô, nửa năm còn lại là những ngày lầm lũi đi làm thuê, kiếm cái ăn qua bữa.
Mười tám tuổi, Sử đã làm mẹ, cái tuổi mà người vùng cao vẫn bảo “không lấy chồng sớm thì thành ế”. Giờ ngoài ba mươi, chị đã có ba con, đứa lớn học lớp 11, đứa giữa lớp 8, đứa út còn nhỏ. Cuộc đời chị cứ thế trôi giữa đá và gió, giữa nhọc nhằn và lo toan, nhưng ánh mắt vẫn len lói một niềm hi vọng mỗi khi nhắc đến chuyện học của con, chuyện làm ăn mới.
Buổi tọa đàm hôm ấy, Sử như mở ra một lối nghĩ khác. Từ những cây lâu năm như nho hạ đen, hồi, dẻ… đến những cây ngắn ngày như lạc hoa, đậu Hà Lan bỗng trở nên gần gũi qua cách nói giản dị, dễ hiểu của chuyên gia Nguyễn Lân Hùng.
Cán bộ xã mang tài liệu cả trăm cuốn do chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi về cho dân bản. Người biết chữ thì đọc, người chưa biết chữ thì Sử lại dịch sang tiếng Mông cho nghe. Ở nơi đá nhiều hơn đất, cái chữ, cái hiểu cũng được chuyền tay nhau như cách người ta chuyền nhau từng hạt giống.
Ở Đồng Văn người dân đã trồng được cây mận, nhưng kỹ thuật canh tác thấp nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Ảnh: Đào Thanh.
Người Mông ở Pẩy Lủng quen sống như cây ngô trên đá, chịu được khô cằn, chịu được những tháng dài không mưa, chỉ cần chút sương trời cũng biết chắt chiu mà sống, mà vươn lên cho bắp, cho hạt. Họ bám vào đá mà sống, cũng bám vào nhau mà đi qua những mùa đói nghèo.
Tôi hỏi Sử, nghe rồi về có làm theo được không? Chị đáp gọn: “Có chứ! Mình là Chi hội trưởng, chồng lại là Bí thư Chi bộ, phải vận động bà con làm theo, phải tìm cách đưa cái nghèo ra khỏi bản”. Rồi chị cười, nụ cười hiền pha lẫn mối lo toan: “Nhưng khó lắm…”.
Cái khó ấy không mới, nó nằm đó từ bao đời, như đá tai mèo vẫn nằm đó trên lưng núi. Nhưng trong ánh mắt của người phụ nữ Mông ấy, tôi thấy một niềm tin, niềm hy vọng giữa trập trùng đá xám. Dù nhỏ bé.
Gặp người trên tivi về bảnNhà văn hóa thôn Lùng Nú hôm nay chật kín người. Người Mông từ các nếp nhà lưng chừng nương đá xa tít tắp, kéo về. Họ đến để gặp chuyên gia nông nghiệp Nguyễn Lân Hùng, người bao năm qua họ thấy trên chiếc tivi. Hôm nay được thấy tận mắt, ai cũng háo hức mà vẫn giữ cái vẻ rụt rè quen thuộc.
Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng trao đổi với người dân vùng cao nguyên đá về các mô hình trồng trọt, chăn nuôi cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Đào Thanh.
Ban đầu, những khuôn mặt rám nắng cúi xuống, vài cánh tay định giơ lên rồi chùn lại. Cả hội trường lặng im như núi. Người Mông quen leo dốc đá, quen gùi ngô, gùi cỏ, nhưng lại ngại nói trước đông người. Cái ngại ấy như bám vào môi, làm lời muốn nói ra cứ bị mắc lại. Gặp người từng thấy trên tivi, lại càng thấy cái miệng như bị để quên ở nhà.
Chuyên gia cười hiền, hỏi chuyện như hỏi người thân: “Bà con mình thường trồng cây gì? Có đủ ăn không? Nuôi con gì cho đỡ vất vả?”, kéo khoảng cách lại gần. Rồi một cánh tay giơ lên, rồi thêm một cánh tay nữa. Không khí bắt đầu ấm lên.
Anh Vàng Nỏ Lúa, thôn Lùng Nú, đứng dậy, nói thẳng như cách người vùng cao vẫn nói: “Nhà tôi trồng nho hạ đen mà sâu nhiều, quả ít. Bà con chỉ quen trồng ngô thôi. Làm sao cho nho tốt được?”.
Chuyên gia gật đầu, đáp: “Phải chịu khó học, chịu khó nghe cán bộ hướng dẫn. Với lại… uống rượu ít thêm một chút, đầu tỉnh táo thì cái chữ, cái cách làm mới vào được. Ở miền xuôi, có nhà trồng nho hạ đen thu tiền tỷ rồi”. Câu nói thật như cách nói của dân bản ấy, khiến cả hội trường bật cười, xua đi hết ngại ngần.
Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng cùng lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Tuyên Quang tham gia trồng cây mắc ca tại Đồn biên phòng Đồng Văn. Ảnh: Đào Thanh.
Từ câu hỏi của anh Lúa, những câu hỏi mộc mạc như đất, như đá, chất chứa nỗi lo hạt ngô, bát mèn mén như được mở nút: “Trước xã đưa rau cải về trồng thay ngô, nhưng mùa khô thiếu nước, cây già nhanh; mùa mưa thì thối, lại quay về trồng ngô. Giờ trồng cây gì cho hợp?”, “Lúa mới trổ đã vàng, không biết bệnh gì?”, “Nhà ít vật nuôi, không biết nuôi con gì cho có tiền…?”.
Đúng lúc ấy, cơn mưa vùng cao bất chợt ập xuống. Mưa đổ lộp bộp trên mái tôn, át cả tiếng loa. Gió lùa qua cửa, mang theo hơi lạnh và mùi đất ẩm. Hội trường bỗng xao động. Vài người đàn ông đứng bật dậy, chạy vội ra ngoài. Rồi vài người phụ nữ cũng tất tả theo sau. Tiếng xì xèo lan ra: “Về thu ngô…”, “quần áo còn phơi dở…”.
Chừng mười lăm phút, họ quay trở lại hội trường, áo còn ướt, chân còn dính bùn, nhưng chỗ ngồi lại kín như cũ. Câu chuyện lại tiếp nối, như chưa hề đứt đoạn. Có người vừa ngồi xuống đã nói ngay: “Trồng rau thì mất ngô, không có ngô thì không có mèn mén mà ăn…”. Một người khác chen vào: “Đàn ông nói hết phần đàn bà rồi!”. Lại có người thắc mắc: “Sao cây lê, cây mận trồng vài năm là sâu bệnh?”
Người dân xã Đồng Văn trao đổi cởi mở về những thắc mắc trong quá trình canh tác, chăn nuôi. Ảnh: Đào Thanh.
Giữa tiếng mưa rơi lẫn tiếng người, chuyên gia Nguyễn Lân Hùng luôn kiên nhẫn lắng nghe, rồi từ tốn giải thích. Ông kể bằng những câu chuyện gần gũi, rằng nơi này trồng được cây gì, nơi kia nuôi con gì đã khá lên ra sao. Miền núi khó thật, nhưng đất rộng, khí hậu riêng, phải biết chọn cây phù hợp. Từ lê, táo, dẻ hạt lớn đến những giống mới có giá trị cao. Những nơi như Lạng Sơn, Sơn La… cũng từng khó như thế, nhưng đã làm được.
Câu chuyện cứ thế lan ra, ấm dần lên giữa mưa núi. Không còn khoảng cách giữa người “trên tivi” và người dưới bản. Chỉ còn lại những con người chân chất, nói thật, hỏi thật, nghe thật. Không gian ấy nhóm lên niềm hi vọng đổi thay nơi núi rừng của người Mông sống bao đời giữa bạt ngàn đá núi.
|
Toàn xã Đồng Văn có hơn 4.900 hộ dân sinh sống tại 69 thôn, với 19 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm trên 80%. Số hộ nghèo đa chiều cuối năm 2025 của xã là 2.255 hộ, chiếm 45,2%; thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 20,96 triệu đồng/người/năm. Năm 2026, xã Đồng Văn đặt ra mục tiêu trồng 100ha những cây trồng có giá trị kinh tế cao. Trong đó trồng 5ha cây dẻ lấy hạt, 2ha cà phê, 25ha sâm khoai, 26ha gừng, 15ha rau chuyên canh, 5ha ớt gió, 10ha cây óc chó… Giai đoạn 2026-2030, xã tiếp tục phấn đấu chuyển đổi diện tích trên các loại cây trồng đạt 500ha trở lên. Về chăn nuôi sẽ đẩy mạnh thực hiện các dự án liên kết chế biến và tiêu thụ sản phẩm như bò, lợn, dê, ong… |
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường