Phân loại rác tại nguồn chưa được xử lý triệt để hiện đang là rào cản lớn cho các hoạt động tái chế tại Việt Nam.
Kết quả khảo sát của TGM Research cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa thói quen xử lý chất thải và mục tiêu phân loại rác tại nguồn. Ảnh: Nguyễn Ngọc.
Khó từ khâu phân loại tại nguồn
Dù hoạt động tái chế ngày càng được quan tâm và yêu cầu về kinh tế tuần hoàn ngày càng rõ nét, nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành tái chế vẫn chưa thực sự đáp ứng được kỳ vọng.
Ông Trần Việt Anh, Chủ tịch Hiệp hội Tái chế chất thải Việt Nam cho rằng, trong thời gian qua, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xử lý và tái chế chất thải gặp nhiều thách thức, nhưng lớn nhất vẫn là câu chuyện phân loại rác tại nguồn.
Đây là vấn đề đã tồn tại nhiều năm và gắn liền với thực trạng quản lý chất thải tại Việt Nam. Phần lớn rác thải phát sinh hiện nay là rác sinh hoạt dân sinh, trong khi việc phân loại tại nguồn chưa được thực hiện đồng đều. Khi các loại rác không được tách riêng ngay từ nơi phát sinh, toàn bộ các công đoạn phía sau như thu gom, vận chuyển, xử lý và tái chế đều gặp nhiều khó khăn.
Theo ông Việt Anh, ở nhiều quốc gia phát triển, việc phân loại rác tái chế, rác hữu cơ được thực hiện ngay tại nơi phát sinh. Nhờ đó, quá trình xử lý sau đó trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu không làm tốt bước phân loại ban đầu thì dù có công nghệ hiện đại hay quỹ đất lớn, hiệu quả xử lý chất thải vẫn bị hạn chế đáng kể.
Thực tế này cũng đang tạo áp lực cho ngành tái chế trong bối cảnh yêu cầu về thu gom, tái chế chất thải ngày càng cao. Khi rác thải bị trộn lẫn, việc thu hồi các loại vật liệu có giá trị tái chế trở nên khó khăn hơn, đồng thời làm gia tăng chi phí cho các công đoạn xử lý phía sau.
Ông Việt Anh cho rằng việc phân loại tại nguồn cần được thực hiện quyết liệt và đồng bộ, song song với việc nâng cao ý thức trong hoạt động xả thải hằng ngày của người dân. Đây là yếu tố tiên quyết để các công đoạn xử lý sau đó được thực hiện thuận lợi.
Những khó khăn ở khâu phân loại cũng được phản ánh qua kết quả khảo sát do TGM Research thực hiện. Bà Tatiana Masalska - đại diện TGM Research cho biết, trong số những người chưa thực hiện phân loại rác, có tới 49% cho rằng nguyên nhân là vì sau khi thu gom, rác vẫn bị để chung. Đây là tỷ lệ cao nhất trong các lý do được ghi nhận.
“Khi người dân chưa nhìn thấy sự khác biệt giữa rác đã được phân loại và rác chưa phân loại sau khâu thu gom, động lực duy trì việc phân loại tại nguồn cũng bị ảnh hưởng”, bà Tatiana Masalska nhấn mạnh.
Khảo sát cũng ghi nhận 42% số người chưa phân loại rác cho rằng việc này mất thời gian, trong khi 41% nhận định đây chưa phải việc thực sự cần thiết. Những con số này cho thấy phân loại rác tại nguồn vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, từ thói quen sinh hoạt hằng ngày đến nhận thức về lợi ích của hoạt động này.
Từ góc độ ngành tái chế, đây cũng chính là những yếu tố khiến nguồn nguyên liệu đầu vào chưa được phân loại ổn định, làm gia tăng khó khăn cho các công đoạn thu gom, xử lý và tái chế phía sau. Điều này cho thấy để phân loại rác tại nguồn thực sự đi vào cuộc sống, không chỉ cần sự tham gia của người dân mà còn đòi hỏi hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý phải được tổ chức đồng bộ, tạo niềm tin vào hiệu quả của toàn bộ quá trình.
Phân loại rác tại nguồn là điều kiện quan trọng để nâng cao tỷ lệ tái chế và phát triển kinh tế tuần hoàn. Ảnh: Mỹ Anh.
Bài toán toàn hệ thống
Những rào cản trong phân loại rác tại nguồn cho thấy đây không chỉ là câu chuyện của từng hộ gia đình hay doanh nghiệp tái chế, mà còn liên quan đến cách tổ chức và vận hành của toàn bộ hệ thống quản lý chất thải.
Theo ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch PRO Việt Nam, kết quả cuối cùng của hoạt động tái chế không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của các tổ chức hay doanh nghiệp thực hiện tái chế, mà còn gắn với hạ tầng thu gom, năng lực ngành tái chế, chính sách phân loại rác tại nguồn, hành vi người tiêu dùng và sự tham gia của khu vực phi chính thức.
Ông Trai cho rằng trong bối cảnh EPR đang bước vào giai đoạn thực thi, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng khối lượng thu gom hay tái chế, mà còn phải xây dựng được một hệ thống vận hành đồng bộ, có khả năng kiểm chứng và mở rộng.
Theo đó, thành công không chỉ được đo bằng số lượng bao bì được tái chế, mà còn ở mức độ tin cậy của hệ thống, từ khả năng truy xuất dữ liệu, kiểm soát chi phí đến việc hình thành các mô hình có thể nhân rộng trong thực tế.
Nhìn từ góc độ này, phân loại rác tại nguồn chỉ là một mắt xích trong chuỗi giá trị tuần hoàn rộng lớn hơn.
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, mục tiêu thu gom và tái chế toàn bộ bao bì đưa ra thị trường không đơn thuần là một mục tiêu môi trường, mà còn là một bài toán phát triển.
Để bao bì sau sử dụng có thể được thu gom và tái chế hiệu quả, không chỉ cần thêm hạ tầng thu gom hay nâng cao năng lực tái chế, mà cần thiết kế lại cả chuỗi giá trị, từ vật liệu, thiết kế bao bì, tiêu chuẩn sản xuất, truy xuất dòng vật liệu, công nghệ phân loại, công nghệ tái chế cho đến cách người tiêu dùng tham gia vào vòng tuần hoàn.
Theo bà Mai, không một bên nào có thể tự mình giải quyết toàn bộ chuỗi giá trị đó. Doanh nghiệp có dữ liệu thực tiễn và năng lực triển khai; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách; trong khi các trường đại học, viện nghiên cứu đóng góp bằng tri thức, công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực giải quyết các bài toán dài hạn.
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường