
Lâm nghiệp, lĩnh vực tính đặc thù, mỗi chủ trương không chỉ gắn với tài nguyên rừng, liên quan trực tiếp đến sinh kế, việc làm và đời sống của hàng nghìn hộ dân miền núi. Vì vậy, mọi chủ trương của Đảng phát triển lâm nghiệp chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được Nhân dân đồng tình, hưởng ứng và trực tiếp tham gia thực hiện. Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận: "Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm; việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh"; "Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công".
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang nhiệm kỳ 2025-2030 xác định phát triển lâm nghiệp bền vững, một trong những nhiệm vụ trọng tâm, phát huy lợi thế địa phương, xây dựng nền kinh tế xanh, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn.
Ngày 12/5/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 90-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu phát huy tiềm năng, lợi thế của kinh tế lâm nghiệp, nâng cao giá trị rừng, phát triển chuỗi sản xuất lâm nghiệp bền vững, đồng thời bảo đảm sinh kế, nâng cao thu nhập và đời sống người dân làm nghề rừng, người dân vùng đệm, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Chi bộ Hạt Kiểm lâm khu vực IV, xác định, triển khai Nghị quyết số 90-NQ/TU không đơn thuần, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ngành Kiểm lâm, là nhiệm vụ chính trị quan trọng của Chi bộ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng. Muốn đưa nghị quyết đi vào cuộc sống, trước hết phải tạo được sự thống nhất về nhận thức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời phải khơi dậy tinh thần chủ động, trách nhiệm và vai trò chủ thể của Nhân dân trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Từ nhận thức đó, Chi bộ Hạt Kiểm lâm khu vực IV, xác định công tác Dân vận, nội dung xuyên suốt trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nghị quyết sinh hoạt chi bộ, chương trình công tác hằng tháng đều gắn nhiệm vụ chuyên môn với yêu cầu tăng cường công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân; phân công đảng viên phụ trách địa bàn; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên bám cơ sở, gần dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh ngay từ cơ sở.
Chi bộ lãnh đạo lực lượng Kiểm lâm, đổi mới tư duy thực hiện công tác Dân vận, lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Thay vì chỉ phổ biến quy định của pháp luật, cán bộ Kiểm lâm tập trung giải thích người dân hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và những giá trị lâu dài của việc bảo vệ, phát triển rừng; đồng thời hướng dẫn áp dụng tiến bộ kỹ thuật, lựa chọn giống cây lâm nghiệp chất lượng cao, tiếp cận các cơ chế, chính sách của Nhà nước, nâng cao hiệu quả sản xuất. Chính sự đồng hành, gần dân và trách nhiệm đó đã góp phần xây dựng niềm tin giữa lực lượng Kiểm lâm với Nhân dân, tạo nền tảng quan trọng triển khai hiệu quả các chủ trương của Đảng về phát triển lâm nghiệp bền vững.
Hạt Kiểm lâm khu vực IV, quản lý trên 60.300 ha rừng trên địa bàn 07 xã, gồm, xã Tri Phú, Chiêm Hóa, Yên Lập, Kiên Đài, Hòa An, Tân Mỹ và xã Kim Bình; trong đó, trên 35.200 ha rừng tự nhiên, trên 19.500 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 67,23%. Quy mô quản lý lớn, địa bàn rộng, điều kiện đi lại còn nhiều khó khăn, dân cư phân bố không đồng đều; phong tục, tập quán sản xuất lạc hậu vẫn tồn tại trong bộ phận đồng bào dân tộc thiểu sổ, đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo và phương pháp dân vận. Thực tiễn cho thấy, nếu chỉ dựa vào các biện pháp hành chính, kiểm tra, xử lý vi phạm, công tác bảo vệ rừng không đem lại hiệu quản cao và bền vững; ngược lại, khi người dân hiểu rõ lợi ích, đồng thuận và tự giác tham gia, mỗi cánh rừng thêm những "người gác rừng" ngay tại cộng đồng dân cư.
Chi bộ Hạt Kiểm lâm khu vực IV, xác định rõ phương châm hành động lấy dân làm gốc, lấy sự đồng thuận của Nhân dân làm mục tiêu, lấy hiệu quả phát triển rừng và nâng cao đời sống người dân làm thước đo chất lượng công tác Dân vận. Đây không chỉ là việc cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, là giải pháp quan trọng đưa Nghị quyết số 90-NQ/TU vào cuộc sống bằng kết quả cụ thể.
Từ đầu năm 2026 đến nay, đơn vị đã tổ chức 87 cuộc tuyên truyền về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, thu hút 6.008 lượt người tham gia, với 4.885 hộ gia đình ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

Công chức Hạt Kiểm lâm khu vực IV cấp phát tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lâm nghiệp cho người dân tại hội nghị tuyên truyền trên địa bàn.
Đổi mới phương thức tuyên truyền trên nền tảng số, với tuyên truyền trực tiếp. Nội dung tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên mạng xã hội Facebook thu hút trên 100.000 lượt người xem và tương tác.
Đơn vị phối hợp cấp phát 9.410 quyển vở học sinh, in nội dung tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho 2.798 học sinh trên địa bàn. Mỗi cuốn vở nhỏ đều mang theo một thông điệp lớn về bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn môi trường sống, góp phần lan tỏa ý thức bảo vệ rừng từ nhà trường đến mỗi gia đình.

Hạt Kiểm lâm khu vực IV cấp phát vở học sinh lồng ghép nội dung tuyên truyền bảo vệ rừng tại Trường PTDTBT THCS Hùng Mỹ.
Con số, phản ánh hiệu quả của công tác Dân vận, giá trị lớn hơn nằm ở sự chuyển biến trong nhận thức của người dân.
Tại xã Tri Phú, thực hiện Dự án trồng rừng thay thế trên diện tích đất chưa có rừng quy hoạch là rừng phòng hộ do UBND tỉnh giao Hạt Kiểm lâm khu vực IV làm chủ đầu tư, đồng chí Nông Đức Nhật, Kiểm lâm làm việc tại địa bàn, thường xuyên cùng cán bộ thôn, xã đến từng hộ dân tuyên truyền, vận động Nhân dân trồng rừng.
Tri Phú, địa bàn có nhiều hộ đồng bào dân tộc Mông sinh sống, khi triển khai chủ trương trồng rừng thay thế, không ít hộ dân còn băn khoăn vì lo ảnh hưởng đến sản xuất và chưa nhìn thấy hiệu quả kinh tế lâu dài.
Không quản ngại đường sá xa xôi, đồng chí Nông Đức Nhật kiên trì cùng chính quyền địa phương và trưởng thôn đến từng hộ gia đình tuyên truyền, giải thích chính sách của Nhà nước, phân tích lợi ích của việc trồng rừng đối với môi trường và sinh kế của người dân.
Có những buổi tuyên truyền diễn ra ngay tại nương rẫy, có những cuộc trò chuyện kéo dài đến tối muộn bên bếp lửa của đồng bào Mông.

Đồng chí Nông Đức Nhật tuyên truyền vận động người dân trồng rừng thay thế trên đất trống quy hoạch phòng hộ
Sự trân thành và trách nhiệm, dần tạo nên sự đồng thuận trong Nhân dân. Kết quả, đồng chí Nông Đức Nhật và đồng chí Bàn Văn Quý đã vận động thành công người dân tham gia trồng rừng thay thế, diện tích 14,5 ha trên địa bàn xã Tri Phú.

Kiểm lâm làm việc tại địa bàn xã Tri Phú tuyên truyền vận động người dân trồng rừng thay thế
Ông Lý Văn Sài, Trưởng thôn Khuân Lần, xã Tri Phú chia sẻ:
“Ban đầu nhiều hộ dân trong thôn, nhất là bà con dân tộc Mông băn khoăn khi triển khai trồng rừng thay thế, lo ảnh hưởng đến sản xuất và chưa thấy hết hiệu quả lâu dài. Đồng chí Nông Đức Nhật và đồng chí Bàn Văn Quý cùng cán bộ xã đến tận nhà tuyên truyền, giải thích chính sách của Nhà nước, phân tích lợi ích kinh tế và môi trường từ việc trồng rừng. Nhờ vậy, bà con hiểu hơn, đồng thuận hơn và tích cực tham gia.”
Trồng rừng thay thế, góp phần nâng độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái từng bước phát triển kinh tế lâm nghiệp, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống.

Đồng chí Nông Đức Nhật hướng dẫn người dân trồng rừng thay thế
Tại xã Tri Phú sự đồng thuận thể hiện rõ trong trồng rừng thay thế, tại xã Tân Mỹ, đồng chí Nguyễn Huy Toàn để lại dấu ấn sâu sắc trong việc vận động người dân sử dụng giống cây lâm nghiệp chất lượng cao.
Trước đây, nhiều hộ dân giữ thói quen mua cây giống giá rẻ, không rõ nguồn gốc. Dẫn đến chất lượng rừng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế lâu dài.
Để thay đổi nhận thức của người dân, đồng chí Nguyễn Huy Toàn, trực tiếp xuống từng thôn, phối hợp với trưởng thôn, các hộ có diện tích rừng trồng tiêu biểu tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn người dân nhận biết cây giống đạt tiêu chuẩn và phân tích hiệu quả kinh tế từ việc sử dụng giống cây chất lượng cao.

Đồng chí Nguyễn Huy Toàn Kiểm lâm làm việc tại địa bàn xã Tân Mỹ đồng hành cùng người dân hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, góp phần nâng cao chất lượng rừng trồng và phát triển lâm nghiệp bền vững.
Bằng những dẫn chứng thực tế từ các mô hình thành công, nhiều hộ dân đã mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất.
Kết quả, diện tích trồng rừng bằng giống cây chất lượng cao trên địa bàn xã Tân Mỹ đã trồng được 138,6 ha/137 ha kế hoạch, đạt 101% kế hoạch giao.
Ông Tòng Càn Tá, Trưởng thôn Sơn Thủy, xã Tân Mỹ cho biết:
“Sau khi được đồng chí Nguyễn Huy Toàn và lực lượng kiểm lâm địa bàn thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn nhận biết cây giống đạt tiêu chuẩn, bà con đã thay đổi nhận thức. Nhiều hộ mạnh dạn đầu tư giống cây chất lượng cao, áp dụng đúng kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng. Kết quả cho thấy cây sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao, người dân rất phấn khởi.”

Công chức Hạt Kiểm lâm khu vực IV trực tiếp hướng dẫn người dân trồng rừng, đưa chủ trương phát triển lâm nghiệp bền vững của Đảng vào thực tiễn sản xuất.
Từ những câu chuyện cụ thể ấy có thể thấy rằng, thành công của công tác dân vận không nằm ở những khẩu hiệu tuyên truyền mà được thể hiện bằng những kết quả cụ thể trên thực tế.
Đến hết tháng 6 năm 2026, toàn địa bàn Hạt Kiểm lâm khu vực IV đã trồng rừng sản xuất được 1.009,64 ha/966 ha đạt 104,5% chỉ tiêu kế hoạch năm. Đây là kết quả rất đáng khích lệ trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về thời tiết, lao động và chi phí sản xuất.
Nhưng điều quan trọng hơn cả là sự thay đổi trong nhận thức của người dân. Từ chỗ thụ động tiếp nhận thông tin, nhiều người dân đã chủ động tham gia bảo vệ rừng, phát hiện và tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp; tích cực tham gia các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Thực tiễn cho thấy, ở đâu làm tốt công tác dân vận, ở đó công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đạt hiệu quả cao. Khi người dân hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình đối với rừng, họ sẽ trở thành lực lượng quan trọng nhất trong việc giữ gìn màu xanh của núi rừng.
Từ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận đến những kết quả cụ thể trong thực hiện Nghị quyết số 90-NQ/TU, Chi bộ Hạt Kiểm lâm khu vực IV đã chứng minh rằng: muốn giữ rừng phải dựa vào dân; muốn phát triển rừng phải vì dân; muốn đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống phải bắt đầu từ lòng dân.
Giữa những cánh rừng xanh bạt ngàn của quê hương Tuyên Quang hôm nay, những người cán bộ kiểm lâm vẫn đang lặng thầm bám cơ sở, bám dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.
Và khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi mỗi người dân đều trở thành một người bảo vệ rừng trên chính quê hương mình, thì những cánh rừng bình yên sẽ tiếp tục được gìn giữ, phát triển bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững mà Nghị quyết số 90-NQ/TU đã đề ra.
Thực hiện: Hạt Kiểm lâm khu vực IV