Báo Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với PGS.TS Trần Tân Văn, Chuyên gia cao cấp về công viên địa chất, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, người trực tiếp tham gia xây dựng Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn từ những ngày đầu, đã chia sẻ những kinh nghiệm từ thực tiễn Đồng Văn, đồng thời gợi mở các hướng tiếp cận phù hợp để địa phương khai thác hiệu quả tiềm năng tự nhiên, văn hóa, đưa di sản trở thành động lực phát triển kinh tế và sinh kế cho cộng đồng.
PGS.TS Trần Tân Văn, Chuyên gia cao cấp về công viên địa chất, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản cho rằng, công viên địa chất có thể là mô hình phát triển bền vững cho những địa phương còn khó khăn, có lợi thế này. Ảnh: Đức Việt.
Nhìn lại quá trình hình thành Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn, có thể thấy đây không chỉ là một danh hiệu của UNESCO mà là một lựa chọn phát triển dựa trên lợi thế tự nhiên và văn hóa bản địa. Từ thực tiễn đó, theo PGS.TS, mô hình này đã gợi mở điều gì cho các địa phương còn nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm con đường phát triển lâu dài?
Trước khi đến với Cao nguyên đá Đồng Văn, chúng tôi đã có gần 10 năm hợp tác dự án nghiên cứu phát triển với các đối tác đến từ Vương quốc Bỉ làm việc tại vùng Tây Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Tình cờ trong chuyến đi Hà Giang năm 2001, trong khuôn khổ một hội thảo về phát triển bền vững, đã khiến chúng tôi nhận ra một thực tế rất rõ ràng: so với các tỉnh Tây Bắc thời điểm đó, Hà Giang, đặc biệt là vùng cao nguyên đá Đồng Văn, còn ở trong điều kiện khó khăn hơn rất nhiều.
Đây là một vùng gần như không có đủ đất sản xuất, không có đủ nước cho sinh hoạt và canh tác. Nông nghiệp gặp vô vàn hạn chế, trong khi khai thác khoáng sản không thể là hướng đi lâu dài. Nếu tiếp tục phát triển theo các mô hình truyền thống, cái nghèo sẽ gần như là một vòng lặp không có lối thoát.
Ngược lại, Cao nguyên đá Đồng Văn lại sở hữu những giá trị đặc biệt mà không phải địa phương nào cũng có: cảnh quan địa chất độc đáo, giá trị địa mạo hiếm có và một không gian văn hóa bản địa vô cùng phong phú. Đây là nơi sinh sống của khoảng 17-18 dân tộc thiểu số, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng, giàu bản sắc. Khi đặt các giá trị đó trong tổng thể, chúng tôi nhận ra rằng tiềm năng phát triển du lịch bền vững là rất lớn, và quan trọng hơn, đây gần như là con đường phát triển khả thi duy nhất.
Chính vì vậy, công viên địa chất ở đây không đơn thuần là câu chuyện bảo tồn di sản, mà là một lựa chọn phát triển mang tính chiến lược: phát triển dựa trên những gì địa phương có lợi thế nhất, thay vì cố gắng chạy theo những mô hình không phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội.
Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn với cảnh quan địa chất độc đáo, giá trị địa mạo hiếm có. Ảnh: Thu Trang
Từ thực tiễn tham gia xây dựng công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam, theo ông, đâu là nút thắt lớn nhất hiện nay trong quản trị và vận hành các không gian di sản, đặc biệt là công viên địa chất, khi chúng ta đã có tài nguyên và con người, nhưng vẫn chưa phát huy được hết giá trị?
Ngay từ khi bắt đầu xây dựng Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn, chúng tôi đã nhận thấy một vấn đề rất rõ ràng: mô hìnhcông viên địa chất khi đó còn vô cùng mới mẻ, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trên thế giới. Chúng tôi gần như chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa có một khuôn mẫu sẵn có để làm theo.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất không chỉ nằm ở sự thiếu kinh nghiệm, mà là ở chỗ Việt Nam chưa có một cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc xây dựng, quản lý và vận hành công viên địa chất.
Sau khi được công nhận, phần lớn các danh hiệu này chưa có một cơ cấu tổ chức thống nhất, chưa có hành lang pháp lý rõ ràng để vận hành bền vững. Ngoại trừ di sản thế giới được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn ở mức độ nhất định, các mô hình còn lại về cơ bản vẫn đang trong tình trạng “vừa làm, vừa dò đường”.
Trong khuôn khổ lễ trao Giải thưởng Du lịch Thế giới, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn được Tổ chức giải thưởng Du lịch Thế giới trao giải “Điểm đến văn hoá khu vực hàng đầu Châu Á năm 2025”.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bước đầu đề cập đến các khu vực được UNESCO công nhận dưới khái niệm chung là “di sản thiên nhiên”, kèm theo Nghị định 08 quy định về việc thành lập Ban quản lý trực thuộc UBND cấp tỉnh. Đây là một bước tiến quan trọng, nhưng trên thực tế, việc triển khai vẫn chưa đồng bộ và chưa đi vào chiều sâu.
Từ thực tiễn đó, theo tôi, thách thức lớn nhất hiện nay không còn nằm ở nhận thức hay nguồn lực con người, mà là việc chúng ta chưa hoàn thiện được một hành lang pháp lý đủ mạnh và đủ rõ cho mô hình công viên địa chất. Vì vậy, trong giai đoạn tới, Việt Nam cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về công viên địa chất và các không gian di sản được quốc tế công nhận, làm rõ mô hình tổ chức, cơ chế phối hợp liên ngành, cũng như trách nhiệm của Trung ương và địa phương. Chỉ khi có khung pháp lý thống nhất và ổn định, các giá trị di sản mới thực sự được bảo tồn gắn với phát triển bền vững và sinh kế cho cộng đồng.
Ông Phan Huy Ngọc, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang (thứ 3 trái sang) nhận Cúp tại lễ vinh danh Giải thưởng Du lịch Thế giới (Vương quốc Bahrain vào tối ngày 6/12/2025). Ảnh: CVĐC.
Trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng lên hàng đầu thông qua thu hút đầu tư, vậy mô hình công viên địa chất gợi mở một cách tiếp cận khác như thế nào đối với mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo tồn di sản và vai trò của cộng đồng địa phương?
Công viên địa chất mang đến một cách tiếp cận rất khác, thậm chí có thể nói là một sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của công viên địa chất là phải có sự tham gia rộng rãi và thực chất của cộng đồng địa phương.
Thông qua phát triển du lịch bền vững, công viên địa chất tạo ra nhiều cơ hội sinh kế mới cho người dân địa phương: từ làm hướng dẫn viên, cung cấp dịch vụ lưu trú, ẩm thực, đến sản xuất các sản phẩm thủ công phục vụ du lịch. Thậm chí, ngay cả những công việc như trông coi, bảo vệ, giới thiệu và tuyên truyền về giá trị di sản cũng đã trở thành một dạng sinh kế.
Quan trọng hơn, công viên địa chất buộc các địa phương phải thay đổi cách tiếp cận trong thu hút đầu tư. Trước đây, nhiều nơi có xu hướng “trải thảm đỏ” cho mọi loại hình dự án, bất kể mức độ bền vững hay tác động tới môi trường và văn hóa. Với mô hình công viên địa chất, địa phương có cơ sở để lựa chọn những nhà đầu tư phù hợp nhất, ưu tiên các dự án thân thiện với môi trường, tôn trọng cộng đồng và phát huy giá trị di sản.
Công viên địa chất, vì vậy, không chỉ là một mô hình phát triển kinh tế xanh, sạch, mà còn là một mô hình giáo dục cộng đồng, dựa trên tri thức và hội nhập quốc tế. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đây là một hướng đi đặc biệt phù hợp, giúp vừa bảo tồn di sản, vừa tạo nền tảng cho phát triển bền vững lâu dài.
Xin chân thành cảm ơn ông!
Hiện Việt Nam có 4 Công viên Địa chất Toàn cầu được UNESCO công nhận, bao gồm Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), Non nước Cao Bằng, Đắk Nông, và mới nhất là Lạng Sơn.
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường