Đất đai - linh hồn của sự sống
Theo Giáo sư Trần Nghi, đất đai là yếu tố then chốt, cốt lõi và quan trọng trong việc hình thành nên môi trường sống. Bản chất đất đai là linh hồn nuôi sống con người, là trung tâm của nền sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Nhà giáo Nhân dân, GS.TS Trần Nghi (sinh năm 1947) là một nhà khoa học nổi tiếng trong lĩnh vực Địa chất Trầm tích có nhiều cống hiến trong khoa học, đào tạo. Ảnh: Kiên Trung.
Đất là yếu tố cốt lõi để đảm bảo các trụ cột xuyên suốt: an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng và môi trường. Để đảm bảo trục xương sống này, quỹ đất phải bền vững. Quy hoạch đất đai không tốt, chuyển đổi mục đích sử dụng đất bừa bãi, ngắn hạn, không có tầm nhìn sẽ khiến đất đai bị phá vỡ.
Viện dẫn câu chuyện đắp đê sông Hồng được khởi phát từ thời nhà Lý khoảng 1.000 năm trước, Giáo sư Trần Nghi chỉ ra mặt trái của tư duy trị thủy thuần túy bằng công trình. Hệ thống đê có mục tiêu khắc chế lũ sông Hồng, song lại ngăn phù sa bồi đắp cho đồng bằng già nua hơn 1 triệu năm tuổi. Phù sa tích chứa trong lòng sông không có cửa thoát, trên đường đi đã tự bồi lắng thành những bãi nổi trong lòng sông. Phần lớn phù sa còn lại theo nước lũ đổ ra cửa biển khiến các khu vực cửa sông mỗi năm thêm mở rộng lấn biển.
Việc con người tác động lên đất đai để phát triển kinh tế - xã hội, khai thác tài nguyên đã trực tiếp ảnh hưởng đối với sức khỏe của đất, gây ra những áp lực lên môi trường tự nhiên… Vì vậy, việc sử dụng, khai thác, bảo vệ tài nguyên, tự nhiên cần đặt trong mối quan hệ tổng thể, chó chiến lược dài hạn, vì lợi ích chung thay vì lợi ích cục bộ.
Đất đai là linh hồn, trung tâm của sự sống. Ảnh: Kiên Trung.
Trong nông nghiệp, đất đai là linh hồn nuôi sống loài người. Quốc gia nào không có quỹ đất nông nghiệp đủ để canh tác, đất nước đó phụ thuốc vào nhập khẩu lương thực, kéo theo rủi ro về kinh tế xã hội, An ninh lương thực vì thế là vấn đề sống còn, đòi hỏi phải duy trì một quỹ đất đủ lớn, có "dư địa an toàn" trên bình diện quốc gia.
Ở Việt Nam, chúng ta không nên trông chờ, ỷ lại vào vựa lúa gạo của ĐBSCL để rồi từ đó chuyển đổi mục đích sử dụng quá nhiều đất nông nghiệp. Bởi ĐBSH là vựa thóc của Bắc bộ. Mỗi vùng cần đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ. Việc gia tăng năng suất bằng khoa học - công nghệ trên nền quỹ đất bị thu hẹp thực chất là cách “cưỡng bóc” đất đai, không cho đất thời gian phục hồi tự nhiên.
Nghiên cứu thích ứng thay vì nghiên cứu biến đổi khí hậuTheo Giáo sư Trần Nghi, vấn đề thứ hai đó là vấn đề nghiên cứu biến đổi khí hậu hay nghiên cứu để làm sao thích ứng với biến đổi khí hậu.
GS Trần Nghi nhấn mạnh: "Nghiên cứu thích ứng khí hậu thay vì nghiên cứu biến đổi khí hậu". Ảnh: Kiên Trung.
Theo Giáo sư Trần Nghi, bên cạnh đầu tư nghiên cứu biến đổi khí hậu (BĐKH), Việt Nam cần tập trung nghiên cứu thích ứng biến đổi khí hậu. Tức là những nghiên cứu phục vụ dân sinh, đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm tác động của thiên tai bất thường. Có thể lấy trượt lở đất làm minh chứng.
Giáo sư Trần Nghi cho rằng nghiên cứu trượt lở đất lâu nay còn lệch trọng tâm. Trượt lở không chỉ do mưa, mà cốt lõi nằm ở cấu trúc địa chất. Mưa chỉ là tác nhân kích hoạt, giống như “giọt nước tràn ly”.
Trượt ở đây là trượt lở những khối đất trên bề mặt của lớp đá. Mái dốc gây trượt lở mới chỉ là điều kiện đủ. Điều kiện cần là những lớp đất đá trên bề mặt này dày hay mỏng, mềm hay cứng. Lớp dưới cùng là lớp đá, trên đá là đất. Cấu trúc theo chiều thẳng đứng của lớp vỏ Trái Đất, từ trên xuống dưới: lớp thổ nhưỡng (mặt đất), lớp vỏ phong hóa (tầng phong hóa), và đá gốc (đá mẹ). Nếu lớp này chỉ mỏng 1 - 2m thì không thành vấn đề, chưa gây ra tai biến, hậu quả gì quá nghiêm trọng. Nhưng nếu lớp đất này dày 50 - 60 mét thì đó là một vấn đề nghiêm trọng. Khi đó toàn bộ khối này bị ngấm nước sẽ trượt trên ranh giới giữa hai lớp đất trên và lớp đá ở dưới. Nếu mưa ít thì trượt từng lớp một, nhưng mưa lớn, dài ngày sẽ ngấm toàn bộ 3 lớp này của đất (như sự cố sạt lở ở làng Nủ) và bị cuốn trôi toàn bộ.
Theo ông, việc giao nghiên cứu sạt lở cho các lĩnh vực địa chất công trình hay thủy lợi là chưa đủ. Cần sự tham gia trực tiếp của các nhà địa chất trầm tích, những người hiểu rõ bản chất vật chất bị trượt.
Mô hình trái đất tại Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội). Ảnh: Kiên Trung.
Đất ở địa bàn miền núi thiếu tính bền vững, ổn định, cộng với việc tầng che phủ rừng bị phá hủy hoặc canh tác đất chưa phù hợp khiến nguy cơ sạt lở càng gia tăng. Hay như cách thức canh tác ruộng bậc thang cũng cần nghiên cứu, có sự kết hợp với các ngành địa chất, lâm nghiệp để tìm địa điểm canh tác cho phù hợp, bởi ruộng bậc thang nếu không có rừng che phủ sẽ tạo điều kiện cho mưa thấm nhiều hơn, nhanh hơn, cùng với sức tải như thế sẽ tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ trượt lở khỏi tầng đá gốc. Vì thế, cần lắng nghe tiếng nói của đất để hiểu bản chất, từ đó có cách ứng xử phù hợp, khoa học.
Ven biển và bài toán thuận thiênĐối với các tỉnh miền trung, do địa hình dốc, hẹp ngang, đất lúa rất ít chỉ nên chú trọng trồng cây ngắn ngày, cây hoa màu, tăng cường rừng phòng hộ che chắn trên những vùng cát khô hạn. Vùng ven biển đối mặt với nguy cơ biển xâm thực, xói lở. Giải pháp để bảo vệ bờ biển hiện nay bên thủy lợi chịu trách nhiệm bằng phương án làm đê, kè bao biển. Tư duy này là chưa chính xác. Những vấn đề thuộc về địa chất phải giải quyết bằng địa chất, không phải là xử lý bằng thủy lợi, đắp đê hay không đắp đê. Khu vực Hải Hậu (tỉnh Nam Định cũ) có tới 5 - 6 thế hệ đê tiếp nhau, bởi lẽ cứ đắp đê xong bão gió lại phá vỡ, đê kè sau lại tiếp tục lùi sâu vào bên trong, chịu ảnh hưởng bởi sự xâm thực của biển. Địa hình ven biển thiếu lớp trầm tích nên không có lớp chân đế vững chắc, không thể chống chịu được sóng biển.
Trước năm 1787, sông Hồng đổ về hạ lưu qua cửa Hà Làn (Nam Định) theo nhánh con sông Sò cũ. Bây giờ, một nhánh đập được đắp ở thị trấn Ngô Đồng đã lấp chặn sông Sò. Vì sao sông Hồng về tới mạn Nam Định (cũ) lại biến thành sông Sò? Căn nguyên là bởi cơn lũ năm 1787 vỡ đê sông Hồng đã chắn lấp đoạn sông, lũ sông Hồng lớn đã tự “mở đường máu” chảy theo đường nhánh hình thành cửa Ba Lạt ngày nay. Cái tên Ba Lạt hình thành là bởi lý do trước kia mới chỉ là một cái lạch nhỏ, người dân bắc cầu tre qua kênh nối Nam Định - Thái Bình.
Cây tre làm cầu được buộc ba cái lạt nên tên gọi “cửa Ba Lạt” từ đó mới có. Thiên nhiên đã tự nó thích ứng, thay đổi. Còn đoạn sông Sò, khi nước mặn xâm thực sâu vào bên trong, xuất hiện loài sò kéo tới sinh sống, người dân địa phương khai thác và gọi tên đoạn sông Hồng này thành tên “sông Sò”. Năm 1960, Nam Định đắp đập ở vị trí thị trấn Ngô Đồng ngày nay khiến sông Hồng ra biển theo cửa Hà Làn chính thức bị “khóa”, phải nắn dòng đổ qua cửa Ba Lạt.
Các hệ thống sông cùng với lũ đã kết hợp với nhau để làm nên những đồng bằng phù sa màu mỡ. Ảnh: Kiên Trung.
Để giải quyết dứt điểm tình trạng sạt lở ven biển tại khu vực Hải Hậu, Nghĩa Hưng, chỉ cần phá đập sông Sò, trả lại hiện trạng cũ cho sông Hồng ngày trước, khơi rộng lòng ra để sông Hồng đưa phù sa theo 2 nhánh về cửa Ba Lạt và cửa Hà Làn, tiếp thêm sức sống cho đồng bằng ở khu vực này. Trong lúc biển Nam Định xâm thực, lấn đất liền mỗi năm thì ngược lại, Ninh Bình (cũ) mỗi năm được bồi tụ ra thêm 100 mét, đặc biệt là mạn Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình cũ). Tất cả là do phù sa sông Hồng đổ ra theo cửa Ba Lạt, và tích tụ, bồi đắp ở đất Kim Sơn.
"Như vậy, muốn sử dụng được hiệu quả, hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên cần phải hiểu được đặc tính, đặc trưng của từng vùng. Với sự thay đổi của môi trường tự nhiên, biến đổi khí hậu, chúng ta cần có những nghiên cứu, thay đổi tương thích. Như trong ĐBSCL có lúa tôm - mô hình trồng lúa, nuôi tôm trong ruộng; mô hình phát triển rừng ngập mặn; đất ngập nước…, đó là những thích ứng với biến đổi khí hậu, thuận thiên, không cưỡng bức tự nhiên.
Bên cạnh đó, bài toán đánh giá tác động môi trường phải đi cùng với đánh giá sức chịu tải; phân tích chi phí lợi ích… để ra hiệu quả cuối cùng làm cơ sở khoa học. Nếu như dự án không có lãi ròng, không hiệu quả thì dừng ngay lập tức, không phê duyệt vì những tác động, đánh đổi khi triển khai dự án sẽ mang lại hậu quả phức tạp hơn cho sự ổn định về cấu trúc địa chất. Khâu đánh giá tác động môi trường phải giao cho một cơ quan độc lập gồm những nhà khoa học, nhà nghiên cứu phân tích đánh giá chứ không thể dễ dãi, tùy tiện như quy trình phê duyệt ĐTM như hiện nay", GS Trần Nghi chia sẻ.
Hệ thống sông ngòi hình thành từ những đứt gãy của lớp vỏ trái đất cùng với yếu tố mưa lũ dẫn dắt các vật chất của đất bị rửa trôi chảy theo các lưu vực sông, trải qua hàng triệu năm hình thành những bãi bồi. Theo thời gian, các đồng bằng trên trái đất ra đời từ những bãi bồi này. Lũ là hiện tượng tự nhiên và là yếu tố xúc tác để sinh ra và nuôi dưỡng các đồng bằng trên trái đất. Không có lũ sẽ không có đồng bằng.
Do đó, phát triển bền vững phải gắn với việc trị thủy, điều tiết phù sa các dòng sông chính là để duy trì nguồn sống cho các đồng bằng. Phương án đắp đê mà loài người đang áp dụng là phương án có tính hai mặt: một mặt đảm bảo sự an toàn, khắc chế những tác động tiêu cực của thiên tai mưa lũ, nhưng mặt còn lại đó là triệt tiêu nguồn sống của các đồng bằng, đoạn tuyệt việc tiếp nhận bồi đắp phù sa cho các đồng bằng khiến những đồng bằng này ngày càng trở nên cằn cỗi, thiếu sức sống.
"Thiên nhiên vĩ đại như thế, tự kiến tạo nên hình thái bề mặt trái đất, là điều kiện tiên quyết để hình thành nên sự sống", GS Trần Nghi nói.
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường