Hai cơ chế tài chính xanh
Tại hội thảo về chính sách tín dụng và thị trường các-bon, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho rằng, tín dụng xanh và thị trường các-bon cần được nhìn nhận trong mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau.
Trước hết, tín dụng xanh cung cấp nguồn vốn cho quá trình đầu tư, đổi mới công nghệ, tạo nguồn lực phát triển các ngành, lĩnh vực xanh, từ đó tạo ra kết quả giảm phát thải. Khi kết quả giảm phát thải được đo lường, xác minh và đáp ứng điều kiện của cơ chế áp dụng, doanh nghiệp có thể hình thành tín chỉ các-bon để giao dịch, tạo thêm nguồn thu phục vụ sản xuất, kinh doanh và tái đầu tư.
Hiện nay, thị trường các-bon và định giá các-bon được các quốc gia xây dựng, ban hành và triển khai, bao phủ hơn 29% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Ảnh: Tùng Đinh.
Ở chiều ngược lại, nguồn thu tiềm năng từ tín chỉ các-bon có thể góp phần cải thiện phương án tài chính của dự án, hỗ trợ doanh nghiệp trả nợ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
Đối với hoạt động tín dụng xanh, điều quan trọng không chỉ là nguồn vốn được giải ngân cho một dự án được xác định là xanh, mà còn là kiểm định kết quả về tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường của khách hàng vay vốn.
Việc đo lường, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải và giao dịch hạn ngạch, tín chỉ trên thị trường các-bon có thể cung cấp thêm thông tin để theo dõi kết quả môi trường của dự án, qua đó hỗ trợ các tổ chức tín dụng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và tăng cường quản lý, giám sát đối với dòng vốn xanh.
Muốn huy động vốn phải chứng minh hiệu quả giảm phát thảiTS. Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG của Agribank cho rằng, tín dụng xanh và thị trường các-bon có mối liên hệ mật thiết nhưng là hai công cụ tài chính khác nhau. Tín dụng xanh cung cấp nguồn vốn phục vụ hoạt động đầu tư, sản xuất, giúp doanh nghiệp lựa chọn định hướng và triển khai các dự án giảm phát thải. Trong khi đó, để hình thành tín chỉ các-bon, kết quả giảm phát thải phải trải qua quá trình đo lường, báo cáo, thẩm tra và đáp ứng các điều kiện công nhận theo cơ chế tương ứng.
"Dự án xanh không đồng nghĩa với việc dự án đó có tín chỉ các-bon; ngược lại, dự án có tín chỉ các-bon cũng không mặc nhiên đủ điều kiện được cấp tín dụng", bà Hà nêu rõ.
Ở góc độ Agribank, điểm quan trọng là phân biệt các trạng thái: “có tiềm năng giảm phát thải”, “dự án đã được đăng ký”, “kết quả đã được thẩm tra”, “tín chỉ đã được phát hành”, “đã ký hợp đồng mua bán” và “tiền đã được thanh toán”. Mỗi trạng thái có mức độ chắc chắn khác nhau và không thể quy đổi cơ học thành cùng một nguồn trả nợ.
Trong khi đó, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh rất lớn, song nguồn vốn chỉ được giải ngân đối với những dự án được đánh giá có hiệu quả, có khả năng trả nợ và có số liệu phát thải đã được kiểm chứng.
Theo kinh nghiệm quốc tế tại một số thị trường phát triển, thị trường các-bon tạo động lực kinh tế để giảm phát thải, trong khi tín dụng cung cấp nguồn vốn giúp doanh nghiệp triển khai các khoản đầu tư và thực hiện dự án.
"Hai công cụ này chỉ có hiệu quả khi bổ trợ lẫn nhau. Khi các tổ chức tín dụng đã có năng lực đánh giá hoạt động xanh, quá trình chuyển đổi của khách hàng, cũng như dòng tiền từ tín chỉ các-bon và khả năng trả nợ của từng dự án", ông Bùi Minh Giáp chia sẻ.
Nguồn vốn tính dụng xanh chỉ được giải ngân đối với những dự án được đánh giá có hiệu quả. Ảnh: Bá Thắng.
Mở rộng quy mô từ những dự án khả thi
Từ những năm đầu triển khai tín dụng xanh (năm 2017) đến nay, hoạt động tín dụng xanh có sự mở rộng cả về quy mô tín dụng và mức độ tham gia của các tổ chức tín dụng. Dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 6,2 triệu tỷ đồng, chiếm trên 31,33% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Kết quả này cho thấy sự đồng hành, nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Báo cáo của WB (Ngân hàng Thế giới) cho thấy, thị trường các-bon trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, với 87 chính sách liên quan đến giá các-bon, thị trường các-bon và định giá các-bon được các quốc gia xây dựng, ban hành và triển khai, bao phủ hơn 29% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Các công cụ này tạo hơn 107 tỷ USD nguồn thu trong năm 2025 và mức giá các-bon trực tiếp bình quân gần 21 USD/tấn CO2 tương đương. Những con số này cho thấy định giá các-bon ngày càng trở thành một công cụ kinh tế quan trọng trong chính sách khí hậu.
Tuy nhiên, nguồn thu từ thị trường các-bon không hình thành chỉ bằng việc doanh nghiệp đầu tư một dự án xanh. Giá trị kinh tế của kết quả giảm phát thải còn phụ thuộc vào phương pháp lượng hóa, cơ chế công nhận, điều kiện giao dịch và nhu cầu thị trường.
Đối với Agribank, lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một trong những địa bàn có tiềm năng phát triển các mô hình giảm phát thải. Đến tháng 8/2026, dư nợ cho vay khu vực này đạt hơn 1,34 triệu tỷ đồng, chiếm 64,7% tổng dư nợ của ngân hàng. Trên nền tảng đó, Agribank đang từng bước đẩy mạnh tín dụng xanh, với tổng dư nợ đạt gần 30.000 tỷ đồng tính đến cuối tháng 3/2026.
Cùng với việc mở rộng nguồn vốn, các cơ quan quản lý đang hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phục vụ hoạt động tín dụng xanh và thị trường các-bon. Trong đó, danh mục phân loại xanh giúp tổ chức tín dụng có thêm căn cứ xác định, thẩm định các dự án phù hợp.
Các ngân hàng thương mại cũng đang từng bước mở rộng tín dụng xanh và nghiên cứu những giải pháp tài chính gắn với thị trường các-bon. Ảnh: Tùng Đinh.
Ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng cho biết, ngành ngân hàng đã nỗ lực hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có các quy định về danh mục phân loại xanh, nhằm tạo cơ sở pháp lý và căn cứ kỹ thuật rõ ràng cho cộng đồng doanh nghiệp nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Qua đó, giúp các tổ chức tín dụng thuận lợi hơn trong việc thẩm định, cho vay tín dụng xanh, rút ngắn quy trình xét duyệt, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, đầy đủ và rõ ràng trong đánh giá các dự án xanh.
Đối với thị trường các-bon, Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định về sàn giao dịch các-bon trong nước đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon.Tuy nhiên, để thị trường thực sự trở thành kênh huy động nguồn lực, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế định giá, bảo đảm chất lượng hàng hóa các-bon và tính minh bạch của dữ liệu phát thải. Giá trị của tín chỉ còn phụ thuộc vào loại dự án, tiêu chuẩn áp dụng và điều kiện giao dịch.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn chuyển đổi xanh ngày càng lớn, sự kết hợp giữa tín dụng xanh và thị trường các-bon có thể tạo thêm lựa chọn tài chính cho doanh nghiệp. Nhưng để dòng vốn được huy động và sử dụng hiệu quả, yếu tố quyết định vẫn là những dự án có khả năng giảm phát thải thực chất, kết quả được kiểm chứng và phương án tài chính khả thi.
Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856 nghìn tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20%/năm trong giai đoạn 2017 - 2025, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học (chiếm trên 31%), năng lượng xanh (chiếm gần 28%).
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường