Khởi đầu từ REED+ và FSC
Tuyên Quang hiện có gần 858 nghìn ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 62,2%. Đây là tiềm năng rất lớn, nhưng diện tích rừng hay lượng các-bon được tính toán chưa đồng nghĩa với số tín chỉ có thể bán. Tuy nhiên, địa phương muốn hình thành tín chỉ, kết quả phải đáp ứng phương pháp được chấp nhận, được đo đạc, báo cáo và thẩm định, đồng thời phải chứng minh được phần hấp thụ hoặc giảm phát thải tăng thêm và không bị tính trùng.

Tỉnh Tuyên Quang đang từng bước khải quyết những khó khăn liên quan đến thủ tục đăng ký tín chỉ các-bon rừng. Ảnh: Đào Thanh.
Ông Đào Duy Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang cho biết, tính đến nay, tỉnh chưa có dự án tín chỉ các-bon rừng nào hoàn thành việc thẩm định, đăng ký hoặc phát hành tín chỉ để giao dịch. Các công việc mới đang ở bước chuẩn bị dữ liệu, đánh giá tiềm năng và hoàn thiện các điều kiện cần thiết. Chương trình REDD+ đang chuẩn bị triển khai cũng là cơ chế chi trả dựa trên kết quả giảm phát thải, không nên hiểu đó là một dự án tín chỉ thương mại do tỉnh tự phát hành.
Khi có nguồn thu từ tín chỉ các-bon, chủ rừng có thể được hưởng lợi theo quy định và theo phương án chia sẻ lợi ích của từng chương trình, dự án. Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và người nhận khoán bảo vệ rừng cũng có thể được hưởng lợi nếu họ thực sự tham gia, có đóng góp và thuộc đối tượng được xác định trong phương án.
Gia đình ông Vũ Văn Hòe, thôn Đèo Tượng, xã Thái Bình có hơn 10 ha rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC. Ông Hòe cho biết, nếu có nguồn thu từ tín chỉ các-bon người trồng rừng có thêm điểm tựa để mở rộng phát triển diện tích rừng gỗ lớn. Cùng với đó, nguồn thu còn có thể được sử dụng để tái đầu tư cho bảo vệ, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng; hỗ trợ sinh kế và nâng cao năng lực quản lý của gia đình ông cũng như những hộ lân cận.

Rừng được cấp tín chỉ các-bon sẽ giúp các tổ chức, cá nhân, chủ rừng có thêm nguồn thu. Ảnh: Quang Linh.
Cần hoàn thiện dữ liệu rừng
Khâu khó nhất hiện nay của Tuyên Quang là xây dựng một bộ dữ liệu thống nhất, đủ độ tin cậy và có thể kiểm chứng. Dữ liệu của hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang trước hợp nhất được xây dựng ở những thời điểm và mức độ chi tiết khác nhau, nên phải tiếp tục đối soát và chuẩn hóa. Địa bàn rộng, địa hình chia cắt cũng làm tăng chi phí điều tra, giám sát. Bên cạnh đó, diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê còn lớn; số lượng chủ thể liên quan nhiều và đa dạng, nên việc xác định người tham gia, quyền hưởng lợi và cơ chế chia sẻ lợi ích sẽ khá phức tạp.
Cùng với đó cần làm rõ chủ thể tham gia, quyền hưởng lợi và trách nhiệm duy trì kết quả, nhất là đối với diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê đang do UBND cấp xã quản lý. Đây là những điều kiện phải làm chắc trước khi đặt vấn đề thương mại hóa tín chỉ các-bon rừng của Tuyên Quang.
Giải pháp của tỉnh Tuyên Quang là sẽ tập trung hoàn thiện dữ liệu rừng, rà soát hồ sơ đất đai và chủ rừng, nâng cao năng lực chuyên môn, đồng thời nghiên cứu lựa chọn cơ chế và đối tác phù hợp. Tinh thần chung của địa phương là không nóng vội chạy theo số lượng tín chỉ các-bon, mà phải làm chắc từ dữ liệu, pháp lý đến cơ chế chia sẻ lợi ích, bảo đảm quyền lợi của chủ rừng, cộng đồng và người trực tiếp bảo vệ rừng.
Tỉnh Tuyên Quang đã đưa nội dung phát triển dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng vào định hướng phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2026-2030; đồng thời triển khai điều tra trữ lượng rừng, thu thập và chuẩn hóa dữ liệu, phục vụ tính toán khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon. Tỉnh cũng đang rà soát dữ liệu sau hợp nhất, cung cấp thông tin cho các chương trình giảm phát thải trong lâm nghiệp và chuẩn bị tham gia chương trình chi trả dựa trên kết quả REDD+ theo cơ chế của Trung ương.
Nguồn: Cổng TTĐT Kiểm Lâm Tuyên Quang