Ba khoảng trống cần được tháo gỡ
Cục Quản lý đất đai đang nghiên cứu, đánh giá khả năng áp dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dạng điện tử (GCNĐT), đồng thời đề xuất sửa đổi quy định pháp luật và giải pháp kỹ thuật phục vụ việc cấp loại Giấy chứng nhận này.
Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 101/2024/NĐ-CP đã bước đầu ghi nhận giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận điện tử tương đương bản giấy. Ảnh: Lê Khánh.
Theo báo cáo nghiên cứu, việc xây dựng mô hình GCNĐT được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu toàn diện các căn cứ pháp lý, cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xác lập mô hình Giấy chứng nhận dạng điện tử.
Về hành lang pháp lý, Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 101/2024/NĐ-CP đã bước đầu ghi nhận giá trị pháp lý của GCNĐT tương đương bản giấy. Cùng với đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 tạo tiền đề cho việc xác nhận bản gốc dữ liệu, ký số và bảo đảm an ninh mạng.
Kết quả nghiên cứu xác định mô hình kỹ thuật của GCNĐT theo hướng “bản gốc dữ liệu”, gồm hai lớp: PDF/A để hiển thị và XML dữ liệu nhúng. Việc xác thực được thực hiện bằng mã định danh UUID, mã QR thời gian thực và chữ ký số HSM.
Mô hình này đã được thử nghiệm tại Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Hà Nội trên hệ thống ViLIS 2024 - GCNĐT, nền tảng HaNoiLIS. Kết quả thử nghiệm được báo cáo đánh giá là chứng minh tính khả thi, độ ổn định và hiệu quả kinh tế-xã hội của GCNĐT.
Tuy nhiên, để triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, báo cáo nhận diện 3 khoảng trống pháp lý lớn. Một là, pháp luật đất đai hiện hành chưa có khái niệm chính thức ở cấp Luật về “Giấy chứng nhận điện tử” như một hình thức thể hiện độc lập, có giá trị pháp lý bản gốc ngang với bản giấy truyền thống trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
Hai là, chưa có khung chính sách bắt buộc liên thông giá trị pháp lý giữa các ngành. Mặc dù pháp luật đất đai công nhận GCNĐT, nhưng chưa có cơ chế buộc các cơ quan, tổ chức như thuế, ngân hàng, công chứng, tòa án, thi hành án phải tiếp nhận, công nhận và sử dụng GCNĐT trong giao dịch dân sự, đăng ký thế chấp, cấp tín dụng hoặc tố tụng. Vì vậy, các giao dịch vẫn có thể phải sử dụng bản giấy.
Ba là, chưa có hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ đồng bộ ở cấp Bộ về cấu trúc dữ liệu, mã định danh duy nhất, dấu thời gian, quy trình phát hành, cấp đổi, cấp lại, cập nhật biến động, hủy bỏ và lưu trữ điện tử lâu dài đối với GCNĐT.
Hoàn thiện thể chế, đồng bộ hạ tầngĐể khắc phục những khoảng trống trên, báo cáo đề xuất hoàn thiện thể chế theo mô hình 3 cấp gồm Luật, Nghị định và Thông tư.
Việc nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và hạ tầng phục vụ GCNĐT được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu và tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp trong thực hiện các giao dịch, thủ tục liên quan đến đất đai. Ảnh: Trường Giang.
Theo đó, ở cấp Luật, cần tham mưu Quốc hội bổ sung, luật hóa chính thức khái niệm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dạng điện tử vào Luật Đất đai. Theo đề xuất, GCNĐT là một hình thức thể hiện chính thức, độc lập của Giấy chứng nhận, có giá trị pháp lý bản gốc và hiệu lực thi hành đầy đủ như bản giấy truyền thống.
Ở cấp Nghị định của Chính phủ, cần quy định cụ thể về giá trị pháp lý, cơ chế công nhận, sử dụng, chuyển đổi và quản lý GCNĐT. Đặc biệt, cần xác lập khung chính sách bắt buộc liên thông giá trị pháp lý giữa các bộ, ngành; quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế, công chứng, ngân hàng, tòa án, thi hành án trong việc công nhận, sử dụng GCNĐT mà không yêu cầu người dân, doanh nghiệp xuất trình bản giấy.
Ở cấp Thông tư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được đề xuất ban hành hướng dẫn chuyên ngành về toàn bộ quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong đó có mẫu giao diện hiển thị, cấu trúc tệp dữ liệu, mã UUID, mã QR xác thực, dữ liệu XML, tiêu chuẩn ký số phần cứng HSM, dấu thời gian và quy trình cấp mới, cấp đổi, cập nhật biến động, hủy bỏ, lưu trữ điện tử lâu dài.
Cùng với hoàn thiện thể chế, báo cáo đề xuất chuẩn hóa khung tiêu chuẩn dữ liệu quốc gia về GCNĐT, bao gồm chuẩn XML, PDF/A, UUID và mã QR xác thực, bảo đảm các phần mềm quản lý đất đai tại địa phương có khả năng khởi tạo và truy xuất dữ liệu đồng bộ.
Hạ tầng Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia (MPLIS) cũng cần tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện; nâng cấp hạ tầng ký số tập trung sử dụng thiết bị HSM dung lượng cao, kết hợp các giải pháp an toàn thông tin chuyên sâu như SIEM, IDS/IPS, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn hệ thống thông tin cấp độ 4.
Bên cạnh đó, cần mở rộng kết nối qua Trục kết nối, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NGSP/LGSP), tích hợp sâu với Hệ thống định danh và xác thực điện tử VNeID, qua đó hỗ trợ người dân tra cứu, quản lý và sử dụng GCNĐT thuận tiện trên thiết bị di động.
Triển khai theo lộ trình phù hợpVề lộ trình, báo cáo đề xuất hai kịch bản nhằm bảo đảm việc chuyển đổi không làm gián đoạn các giao dịch đất đai hiện hành.
Theo đó, đối với các địa phương đã hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai, có thể triển khai ngay việc cấp GCNĐT đồng bộ, kết nối toàn trình với Cổng dịch vụ công và các cơ quan thuế, ngân hàng, công chứng.
Đối với các địa phương chưa hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, triển khai theo mô hình cuốn chiếu, vừa số hóa, chuẩn hóa dữ liệu địa chính, vừa từng bước áp dụng GCNĐT đối với hồ sơ đăng ký mới và đăng ký biến động.
Trước khi áp dụng bắt buộc trên phạm vi toàn quốc, báo cáo đề nghị mở rộng thí điểm GCNĐT tại một số tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng kinh tế để đánh giá toàn diện, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Để thực hiện nhiệm vụ này, trước đó, Cục Quản lý đất đai đã thành lập Tổ công tác nghiên cứu, đánh giá khả năng áp dụng GCNĐT và đề xuất sửa đổi quy định pháp luật, giải pháp kỹ thuật phục vụ việc cấp GCNĐT. Tổ công tác có sự tham gia của các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an cùng các đơn vị chuyên môn về dữ liệu, đo đạc, đăng ký đất đai và hệ thống thông tin đất đai.
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường