Dùng chung nhưng phải kiểm soát
Luật Đất đai 2024 đặt nền tảng pháp lý cho việc xây dựng Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo hướng tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu và kết nối, liên thông trên phạm vi cả nước. Hệ thống được định hướng kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản... bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
"Dùng chung" là một trong 6 tiêu chí "đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung" của cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Để bảo đảm tính chất "dùng chung", dữ liệu được thiết kế mở, có khả năng kết nối, chia sẻ và liên thông thông suốt giữa các bộ, ngành, địa phương, giúp các cơ quan cùng khai thác hiệu quả và tránh tình trạng đầu tư trùng lặp, gây lãng phí ngân sách.
Theo định hướng này, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được cập nhật đầy đủ, chính xác và kịp thời; đồng thời kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành và địa phương để phục vụ cập nhật, chia sẻ, khai thác và sử dụng thông tin. Khi được cơ quan có thẩm quyền cung cấp, dữ liệu có giá trị sử dụng chính thức tương đương văn bản giấy.
Người dân tập trung đăng ký, cập nhật, làm sạch dữ liệu đất đai tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hoài Đức, TP. Hà Nội. Ảnh: Phạm Oanh.
Quy mô triển khai cho thấy tầm vóc ngày càng lớn của hạ tầng dữ liệu này. Đến cuối tháng 7/2026, cả nước đã xây dựng cơ sở dữ liệu cho hơn 73,1 triệu trong tổng số hơn 100,67 triệu thửa đất; trong đó, hơn 38,59 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”. Khoảng 87,39 triệu lượt dữ liệu đã được đối khớp, xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; hơn 34,5 triệu thửa đất đã được xác thực, thống nhất thông tin về người sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Những con số trên cho thấy hạ tầng dữ liệu đất đai quy mô quốc gia đang từng bước hình thành. Tuy nhiên, quy mô dữ liệu càng lớn, phạm vi kết nối càng rộng thì yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật càng trở nên cấp thiết.
Chính vì vậy, Luật Đất đai 2024 đã yêu cầu, Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai phải được bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng theo cấp độ. Với dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước, việc in, sao, truyền, lưu giữ, cung cấp và bảo quản phải tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
Trong bối cảnh pháp luật hiện hành, yêu cầu này còn phải đặt trong mối liên hệ với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026; Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật.
Điều đó đặt ra một nguyên tắc quan trọng, chia sẻ dữ liệu không đồng nghĩa với chia sẻ không giới hạn. Mỗi kết nối cần xác định rõ dữ liệu nào được chia sẻ, ai được quyền khai thác, khai thác vào mục đích gì, ở mức độ nào và trách nhiệm thuộc về cơ quan, đơn vị nào.
Nền móng an toàn phải bắt đầu từ cơ sởNếu Trung ương giữ vai trò tích hợp, quản lý và khai thác dữ liệu trên phạm vi quốc gia thì địa phương là nơi trực tiếp tạo lập, cập nhật và làm giàu dữ liệu. Vì vậy, bảo đảm an toàn cho hệ thống không thể chỉ dựa vào hạ tầng công nghệ ở cấp Trung ương, mà phải được thực hiện đồng bộ từ tỉnh, thành phố đến xã, phường và từng cán bộ trực tiếp xử lý hồ sơ.
Năm 2026, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi Chỉ thị số 05/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung nguồn lực đẩy nhanh đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Cùng với đó, Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an tiếp tục cụ thể hóa các nhiệm vụ chuẩn hóa, đồng bộ và xác thực dữ liệu trên phạm vi cả nước.
Tại các địa phương, cơ sở dữ liệu đất đai được cập nhật liên tục, liên thông và bảo đảm an toàn. Ảnh: An Khang.
Thực tế tại các địa phương cho thấy, cùng với tốc độ số hóa, yêu cầu bảo đảm an toàn dữ liệu đang được đặt lên hàng đầu. Tại Hà Nội, với khoảng 4,19 triệu thửa đất, công tác xây dựng và làm sạch dữ liệu đang được đẩy mạnh. Đến giữa tháng 8/2026, thành phố đã xây dựng cơ sở dữ liệu cho hơn 2,7 triệu thửa; gần 2,85 triệu thửa đất, căn hộ được làm sạch, xác minh và định danh.
Song song với số hóa và chuẩn hóa dữ liệu, Hà Nội đặt yêu cầu hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu phải ổn định, thông suốt, an toàn, bảo mật và có khả năng mở rộng. Thành phố chú trọng các giải pháp như giám sát, cảnh báo truy cập; kiểm soát phân quyền; quản lý nhật ký truy cập; đồng thời tổ chức diễn tập và kiểm tra định kỳ về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu.
Tại Bắc Ninh, Kế hoạch số 92/KH-UBND ngày 1/4/2026 xác định nhiệm vụ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai theo tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, đồng thời yêu cầu bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an ninh và an toàn hệ thống. Đến tháng 7/2026, hệ thống của tỉnh đã có dữ liệu của hơn 2,42 triệu thửa đất
Cùng với các giải pháp bảo vệ hệ thống, Bắc Ninh cũng tăng cường cảnh báo người dân trước các thủ đoạn giả danh cán bộ để thu thập thông tin về đất đai, căn cước và dữ liệu cá nhân. Điều này cho thấy bài toán an toàn dữ liệu không chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật của hệ thống mà còn liên quan trực tiếp đến nhận thức, kỹ năng và trách nhiệm của người dân, cán bộ và các tổ chức tham gia khai thác dữ liệu.
Tại TP.HCM, yêu cầu an toàn được triển khai từ cấp thành phố đến các đơn vị trực tiếp vận hành. Cùng với rà soát, chuẩn hóa, làm giàu và làm sạch dữ liệu, thành phố đặt yêu cầu đánh giá an ninh, an toàn và bảo mật hệ thống trước khi kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia. Tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai số 31, các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin, quản lý tài khoản, kiểm soát khai thác dữ liệu và xử lý lỗi kỹ thuật được duy trì nhằm bảo đảm hệ thống vận hành ổn định.
Thực tiễn triển khai tại các địa phương cho thấy, xây dựng dữ liệu mới chỉ là bước đầu. Khi dữ liệu được kết nối và khai thác rộng hơn, việc duy trì dữ liệu “sống”, chính xác và an toàn trong suốt vòng đời mới là thách thức lớn. Bên cạnh đầu tư hạ tầng công nghệ, các địa phương cần chú trọng quy trình vận hành, phân định rõ trách nhiệm, kiểm soát quyền truy cập và chỉnh sửa dữ liệu, nâng cao năng lực cán bộ, thường xuyên kiểm tra, giám sát và chủ động phương án xử lý khi xảy ra sự cố.
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường