Nội dung này được Bộ Công an góp ý trong quá trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường biên soạn, và đã được đưa vào Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Theo đó, tổ chức, cá nhân xin cấp mã số vùng trồng nhưng không có quyền sử dụng thửa đất phải nộp kèm văn bản đồng ý của chủ sử dụng.
Thứ trưởng Bộ NN-MT Nguyễn Hoàng Hiệp trong chuyến khảo sát vùng trồng sầu riêng tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: Phạm Hoài.
Dự thảo được Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cùng các đơn vị chuyên môn thảo luận chiều 8/9. Trước đó, Nghị quyết 36/2026/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 31/7 cho phép tổ chức, cá nhân tự kê khai diện tích, vị trí nếu chưa có hoặc chưa khai thác được mã định danh thửa đất.
Mã số vùng trồng, theo khoản 1 Điều 64 Luật Trồng trọt được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15, được cấp cho một loại cây trồng xác định, gắn với vị trí của một hoặc nhiều thửa đất theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoặc nhóm hộ. Mã số vùng trồng không xác lập, không thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân.
Vị trí thửa đất được xác định theo mã định danh trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nếu thửa đất chưa có hoặc chưa thể khai thác mã định danh, người đề nghị cấp mã được tự kê khai. Chủ tịch UBND cấp xã chỉ đạo xác nhận thông tin khi kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.
Dự thảo đồng thời yêu cầu tổ chức, cá nhân có mã số vùng trồng chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác và trung thực của thông tin kê khai trong đơn cùng hồ sơ liên quan. Trách nhiệm tương tự được đặt ra với người đề nghị cấp mã số cơ sở đóng gói.
Các thủ tục còn lại trong dự thảo chủ yếu kế thừa cơ chế Chính phủ đã áp dụng từ ngày 31/7, theo Nghị quyết 36. Hồ sơ đề nghị cấp mã gồm đơn theo mẫu và được gửi tới UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường yêu cầu mã số, Chủ tịch UBND cấp xã dự kiến cấp mã trong tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ. Trường hợp đăng ký xuất khẩu vào thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn giải quyết không quá 10 ngày làm việc. UBND cấp xã tổ chức kiểm tra thông tin kê khai và khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu.
Cách phân loại này tiếp tục nguyên tắc chỉ tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu yêu cầu mã số. Những hồ sơ còn lại được giải quyết theo cơ chế tự khai, tự chịu trách nhiệm, gắn với hậu kiểm, giám sát, xử lý vi phạm và truy xuất nguồn gốc.
Dự thảo giao UBND cấp xã tiếp nhận và giải quyết thủ tục cấp, cấp lại mã số. Cùng với đó, là kiểm tra, hậu kiểm, tạm dừng, thu hồi, phục hồi mã. Đồng thời, cập nhật dữ liệu và trạng thái mã số trên hệ thống nghiệp vụ. Cấp xã cũng xác nhận vị trí, diện tích khi thửa đất chưa có hoặc chưa khai thác được mã định danh.
UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí nhân lực, kinh phí, cơ sở hạ tầng để cấp xã thực hiện các nhiệm vụ này. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh làm đầu mối hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra, giám sát và tổng hợp danh sách mã số phục vụ xuất khẩu để gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Các mã số đã được cấp hoặc chuyển đổi trước khi nghị định sửa đổi có hiệu lực dự kiến tiếp tục được sử dụng. Bộ đang gấp rút hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ trong tháng 9/2026.
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường