Rõ mục tiêu, đối tượng và nguyên tắc đánh giá
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 3763/QĐ-BNNMT thí điểm thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Việc đánh giá không chỉ hướng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ mà còn nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm của đơn vị chủ trì và người đứng đầu trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Đối tượng đánh giá là các đơn vị trực thuộc Bộ được giao chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong chương trình công tác hằng năm hoặc theo văn bản giao nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền. Phạm vi đánh giá bao gồm các nhóm văn bản: Luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị định, nghị quyết của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ và thông tư của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Các văn bản thuộc phạm vi bí mật nhà nước không thuộc diện đánh giá, chấm điểm theo cơ chế này.
Việc đánh giá được thực hiện định kỳ hằng quý, 6 tháng và hằng năm, bảo đảm khách quan, công bằng, minh bạch, hiệu quả và phù hợp với đặc thù của công tác xây dựng pháp luật. Quá trình triển khai phải bám sát tinh thần “6 rõ”, gồm: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả.
Một nguyên tắc quan trọng là kết quả chấm điểm phải dựa trên tiến độ, chất lượng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, có căn cứ và tài liệu chứng minh rõ ràng. Những trường hợp ngoại lệ phải được xem xét chặt chẽ, công khai, minh bạch, trên cơ sở nguyên nhân khách quan, sự kiện bất khả kháng hoặc yếu tố không thuộc trách nhiệm của đơn vị được đánh giá.
Đáng chú ý, kết quả KPI là một trong những căn cứ phục vụ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của thủ trưởng đơn vị, qua đó tăng cường trách nhiệm quản lý và tính chủ động trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thí điểm chấm điểm KPI về công tác xây dựng văn bản pháp luật đối với các đơn từ quý I năm 2026. Ảnh: AI.
Chấm điểm theo tiến độ, chất lượng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ
Theo Quyết định số 3763/QĐ-BNNMT, việc đánh giá KPI dựa trên hai tiêu chí chính: Kết quả trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và trình Bộ trưởng ban hành thông tư; kết quả tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo văn bản theo chỉ đạo của Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ. Điểm số xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của mỗi đơn vị trong kỳ đánh giá được xác định bằng điểm trung bình cộng của hai tiêu chí này.
Đối với tiêu chí trình, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thang điểm tối đa 100 điểm, gồm 50 điểm cho tiến độ và 50 điểm cho chất lượng hồ sơ.
Điểm tiến độ được tính bằng trung bình cộng điểm tiến độ của tất cả văn bản do đơn vị chủ trì soạn thảo phải trình, ban hành trong kỳ đánh giá. Đơn vị có thể được cộng điểm thưởng khi phát sinh nhiệm vụ xây dựng văn bản ngoài danh mục đánh giá, với điều kiện nhiệm vụ được Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ hoặc Bộ trưởng giao bằng văn bản. Điểm tiến độ sau khi cộng thưởng không vượt quá 50 điểm.
Ngược lại, đơn vị có thể bị trừ điểm tiến độ nếu văn bản đã được đưa vào chương trình công tác hằng năm hoặc được Bộ trưởng giao nhiệm vụ phải rút khỏi chương trình, hoặc lùi thời hạn trình, ban hành do nguyên nhân chủ quan của đơn vị. Điểm sau khi trừ không thấp hơn 0 điểm.
Điểm chất lượng hồ sơ được tính bằng trung bình cộng điểm chất lượng của tất cả văn bản do đơn vị chủ trì soạn thảo được trình, ban hành trong kỳ. Trường hợp đơn vị được giao chủ trì nhiều văn bản, tổng điểm của nhóm tiêu chí này được tính theo hệ số K và không vượt quá 100 điểm.
Đối với tiêu chí tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ theo chỉ đạo của Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ, thang điểm cũng được xác định theo mức độ bảo đảm thời hạn. Cụ thể: Hoàn thành trước hoặc đúng hạn: 100 điểm; quá hạn từ 1 đến 3 ngày: 90 điểm; quá hạn từ 4 đến 6 ngày: 80 điểm; quá hạn từ 7 ngày trở lên: 0 điểm.
Điểm của đơn vị là trung bình cộng điểm của tất cả văn bản phải tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện trong kỳ đánh giá. Thời hạn thực hiện được xác định theo văn bản chỉ đạo hoặc thông báo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ. Thời điểm hoàn thành là ngày Bộ có văn bản trình hoặc báo cáo lại về kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Quy định đồng thời nêu rõ những trường hợp không chấm điểm hoặc điều chỉnh thời hạn đánh giá, như văn bản chỉ đạo không quy định thời hạn cụ thể; nhiệm vụ đã quá hạn khi đơn vị nhận được chỉ đạo; cơ quan phối hợp không gửi ý kiến đúng hạn; hoặc trường hợp khách quan được cấp có thẩm quyền chấp thuận lùi thời hạn.
Việc quy định cụ thể thang điểm, cách tính điểm thưởng, điểm trừ và các trường hợp ngoại lệ nhằm tạo cơ sở đánh giá có căn cứ, hạn chế tính chủ quan, đồng thời phản ánh sát hơn trách nhiệm và kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng đơn vị.
Xếp loại đơn vị theo kết quả KPI
Căn cứ tổng điểm đánh giá theo quy định, các đơn vị được xếp loại công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo bốn mức. Đơn vị đạt 100 điểm được xếp loại hoàn thành xuất sắc; từ 90 đến dưới 100 điểm là hoàn thành tốt; từ 80 đến dưới 90 điểm là hoàn thành; dưới 80 điểm là không hoàn thành.
Để bảo đảm kết quả đánh giá chính xác, minh bạch, Quyết định số 3763 quy định quy trình thực hiện gồm năm bước, với sự tham gia của Vụ Pháp chế và các đơn vị được giao chủ trì xây dựng văn bản.
Trước hết, Vụ Pháp chế rà soát, xác định danh mục văn bản quy phạm pháp luật thuộc kỳ đánh giá và gửi các đơn vị làm căn cứ triển khai. Trên cơ sở danh mục này, đơn vị chủ trì có trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu và tài liệu kiểm chứng đối với từng văn bản trên Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời gửi Vụ Pháp chế phục vụ chấm điểm.
Tiếp đó, Vụ Pháp chế tổng hợp dữ liệu, tài liệu do các đơn vị cung cấp để tiến hành đánh giá, chấm điểm. Trước khi xác định kết quả chính thức, cơ quan này phải thông báo kết quả dự kiến cho đơn vị được đánh giá để rà soát, giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu liên quan.
Sau khi hoàn thiện kết quả, Vụ Pháp chế báo cáo Bộ trưởng và gửi Vụ Tổ chức cán bộ để phục vụ công tác đánh giá, xếp loại thủ trưởng đơn vị. Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp tiếp nhận, tổng hợp và sử dụng kết quả theo quy định.
Về trách nhiệm thực hiện, Vụ Pháp chế là đơn vị chủ trì hướng dẫn, tổ chức đánh giá và định kỳ hằng quý báo cáo Bộ trưởng, gửi Vụ Tổ chức cán bộ kết quả đánh giá. Các đơn vị chủ trì xây dựng văn bản phải chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, kết quả nhiệm vụ được giao và tính đầy đủ, chính xác, kịp thời của hồ sơ, tài liệu cung cấp.
Với cơ chế đánh giá gắn kết quả định lượng với trách nhiệm của đơn vị và người đứng đầu, chính sách được kỳ vọng góp phần nâng cao tính chủ động, siết chặt kỷ luật thực thi và cải thiện chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường