|
LTS: Từ ngàn đời nay, rừng Tây Côn Lĩnh là mái nhà, là bầu sữa nuôi sống bao thế hệ người Dao, người Nùng… Và cũng chính từ lòng rừng thuộc tỉnh Tuyên Quang ấy, những báu vật được sinh sôi, nuôi khát vọng đổi thay cho những bản làng từng quen với đói nghèo và gian khó. |
Tây Côn Lĩnh mùa này nắng kéo dài. Những triền núi phơi mình dưới cái hanh khô của gió cao nguyên. Thế nhưng giữa cái nắng bỏng rát ấy, những cây chè Shan tuyết cổ thụ vẫn xanh um, búp non mơn mởn bật lên từ những thân cây già phủ đầy rêu mốc. Nhìn những đọt chè căng tràn sức sống, người ta càng hiểu vì sao hương trà Tây Côn Lĩnh lại có sức mê hoặc đến vậy.

Một cây chè Shan tuyết cổ thụ trên núi Tây Côn Lĩnh, gốc to, một người ôm không hết. Ảnh: Đ. Hiệp.
Người già các bản làng nói rằng, chè Shan tuyết không phải cây trồng, nó là “cây của rừng”. Chè Shan tuyết có trước cả những con đường mòn đầu tiên của người Dao lên núi. Có trước cả những câu chuyện được kể bên bếp lửa. Và có lẽ, cũng từ đó mà huyền tích bắt đầu.
Theo dấu Mạc trà
Tôi men theo những con dốc quanh co từ Cao Bồ, qua Thông Nguyên đến Hồ Thầu, tìm về những bản người Dao nép mình dưới dãy Tây Côn Lĩnh. Nơi ấy, những cây chè Shan tuyết hàng trăm năm tuổi vẫn vươn lên giữa mây ngàn. Mỗi vùng chè mang một hương vị khác nhau, như thể đất cũng có ký ức, núi cũng có tâm tình, còn con người thì gửi cả cuộc đời mình vào từng búp chè.
Ngôi nhà gỗ của ông Đặng Văn Minh ở thôn Lùng Tao thơm mùi trà mới. Trên vách, những chiếc gùi hái chè đã ngả màu thời gian. Ngoài hiên, gió núi lùa qua những tán chè cổ thụ, mang theo mùi hương quen thuộc của vùng sơn cước.
Gia đình ông Minh đã sáu đời làm chè. Ông nội truyền cho cha, cha truyền cho ông. Đến lượt ông, rồi các con và cả đứa cháu nội mới lớn cũng đã biết nâng niu từng búp Shan tuyết như nâng niu báu vật của núi rừng.
Mắt hướng về những triền núi xanh thẳm phía xa theo bàn tay chai sạn vì mấy chục năm hái chè, ông bảo với tôi rằng: “Đời người Dao mình lớn lên cùng cây chè. Bao đứa trẻ cất tiếng khóc đầu tiên dưới mái nhà sàn rồi theo cha mẹ lên nương chè. Bao mái nhà được dựng lên nhờ chè. Ngày trước, chè đổi lấy hạt gạo, hạt muối, chai dầu thắp sáng đêm đông. Bây giờ cũng từ chè mà có con đường bê tông vào bản, có xe máy, có điện, có những đứa trẻ được học cao hơn cha ông của chúng”.

Ông Đặng Văn Minh (ngoài cùng bìa phải) kể chuyện về cây chè Shan tuyết quê mình. Ảnh: Đào Thanh.
Với ông già đã ngoài bảy mươi tuổi ấy, cây chè không chỉ là kế sinh nhai. Đó là ký ức của tổ tiên, là hơi thở của bản làng, là thứ đã nuôi lớn biết bao thế hệ người Dao dưới chân Tây Côn Lĩnh.
"Chè Shan tuyết Tây Côn Lĩnh có thật sự ngon đến vậy không?" - tôi hỏi. Ông già người Dao mỉm cười. Nụ cười hiền như làn khói bếp đang bảng lảng dưới mái nhà đáp: Có chứ. Nếu không ngon, sao người già trong các bản làng ở Tây Côn Lĩnh vẫn truyền nhau một giai thoại về Mạc Đăng Dung. Không ai biết câu chuyện bắt đầu từ bao giờ. Chỉ biết rằng nó đã theo những bếp lửa, theo những đêm kể chuyện của người già trong làng mà đi qua biết bao thế hệ.
Người xưa kể rằng, thuở còn mưu sinh bằng nghề chài lưới, trong một lần lạc bước giữa núi rừng sau nhiều ngày đói khát, Mạc Đăng Dung kiệt sức giữa biển mây Tây Côn Lĩnh.
Đúng lúc tưởng như không còn đủ sức bước tiếp thì bỗng đâu một người lạ xuất hiện. Người ấy nhóm bếp, hái những lá cây có viền răng cưa trên đỉnh núi phủ mây rồi đun nước cho Mạc Đăng Dung uống. Sau ba bát nước, người đàn ông đang kiệt quệ bỗng thấy cơ thể nhẹ bẫng, tinh thần sáng rõ như vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ ngon. Mệt mỏi tan đi, đôi chân lại đủ sức vượt núi.
Rồi người lạ cũng biến mất giữa mây trắng. Không ai biết người đó là ai. Cũng chẳng ai biết loài cây ấy mọc từ bao giờ trên những sườn núi cao. Điều còn lại chỉ là lời truyền miệng.

Những cây chè Shan tuyết giúp người Dao ở Cao Bồ cải thiện cuộc sống. Ảnh: Đào Thanh.
Sau này khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung vẫn không quên thứ lá cây đã cứu mình năm ấy nên mới cho người hái về sao khô dùng dần, thức ấy chính là trà như cách ta vẫn gọi hiện nay. Trước mỗi buổi thiết triều hay luyện võ, ông đều dùng trà để giữ cho đầu óc tỉnh táo. Dân gian còn lưu truyền câu nói: “Ba chén trà, bốn chén rượu”, như một thói quen dưỡng thân và dưỡng trí của nhà vua.
Ông Minh khép lại câu chuyện bằng một nụ cười hiền: Chẳng ai dám chắc câu chuyện ấy đúng đến đâu. Nhưng ở vùng núi này, người ta tin rằng mỗi cây chè cổ thụ đều có linh hồn của núi. Điều gì được người già kể mãi qua bao đời thì hẳn phải có một phần sự thật nằm trong đó.
Ngoài hiên, mây vẫn chầm chậm trôi qua những tán chè Shan tuyết cổ. Chén trà trước mặt tôi tỏa hương dìu dịu. Vị chát đầu lưỡi tan rất nhanh, để lại vị ngọt hậu sâu và bền như chính câu chuyện vừa được kể.
Có lẽ vì thế mà người Tây Côn Lĩnh vẫn gọi thứ trà ấy bằng một cái tên đầy huyền hoặc: Mạc trà. Không chỉ bởi một giai thoại xa xưa, mà còn bởi niềm tin rằng trong từng búp Shan tuyết ngậm sương kia, vẫn còn lưu giữ tinh khí của đại ngàn, ký ức của người Dao và những huyền thoại chưa bao giờ thôi sống trong mây ngàn Tây Côn Lĩnh.
Vượt qua bóng núi
Gần hai mươi năm gắn bó với vùng chè Shan tuyết, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Tuyên Quang Giang Đức Hiệp thuộc từng con dốc, từng cánh rừng trên dãy Tây Côn Lĩnh.

Anh Giang Đức Hiệp (bìa trái), Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Tuyên Quang đi khảo sát thực tế vùng chè trên núi Tây Côn Lĩnh. Ảnh: Xìn Quyết.
Anh nhớ cây chè nào có thân lớn nhất, cây nào nằm cheo leo trên vách núi, cây nào được người Dao coi như báu vật của bản làng. Không ít lần, anh cùng đồng nghiệp đi bộ hàng giờ giữa rừng sâu chỉ để tìm một cây chè cổ được người dân kể lại. Có cây phải mất cả ngày đường mới tới nơi.
Anh bảo, mỗi lần gặp một cây chè cổ, cảm giác giống như gặp một cụ già của núi rừng, chỉ muốn giữ cho cụ còn mãi với con cháu sau này. Bởi vậy, việc khảo sát, đánh dấu, lập hồ sơ công nhận cây di sản với anh chưa bao giờ đơn thuần là công việc chuyên môn. Đó giống như một cách trả nghĩa cho rừng, cho những bản làng người Dao đã gìn giữ những cánh rừng chè suốt bao thế hệ.
Anh Hiệp kể, từ Thông Nguyên, Hoàng Su Phì, Xín Mần đến Hồ Thầu, Cao Bồ..., nơi nào có những rừng chè Shan tuyết cổ thụ, nơi ấy gần như đều có bản làng người Dao sinh sống. Người Dao không chỉ trồng chè. Họ sống cùng chè, lớn lên cùng chè và gửi cả phong tục, tập quán của mình vào từng búp non phủ tuyết trắng.

Đặng Văn Lòng tham gia phần thi chế biến chè Shan tuyết truyền thống tại Lễ hội miền chè di sản xã Cao Bồ. Ảnh: NVCC.
Ngày trước, người Dao làm chè theo cách rất riêng. Chè hái về không sao ngay mà được nhồi vào những ống tre rồi đem phơi nắng, sau đó hong nhiều ngày trên gác bếp. Hương khói quyện vào từng cánh trà, để mỗi lần pha nước lại thấp thoáng mùi củi rừng, mùi tre nứa, mùi của những nếp nhà đã đỏ lửa qua bao mùa đông trên núi.
Có lẽ cũng vì thế mà uống một chén Shan tuyết nơi đây, người ta không chỉ nếm vị trà, mà còn cảm nhận được cả nhịp sống chậm rãi của bản Dao giữa đại ngàn.
Giữ gìn những giá trị ấy, hằng năm xã Cao Bồ đều tổ chức Lễ hội Miền trà di sản. Giữa không gian ngan ngát hương trà, tôi gặp Đặng Văn Lòng, Giám đốc HTX Trà Shan tuyết cổ thụ Lùng Tao Village. Lòng là cháu nội của ông Đặng Văn Minh - người cả đời gắn bó với những cây chè cổ của bản. Sinh ra trong gia đình nhiều đời làm chè, hai năm liên tiếp, Lòng đều giành giải Nhất tại Lễ hội Miền trà di sản.
Lòng kể, tuổi thơ của mình gắn với những chuyến theo cha mẹ gùi chè vượt núi xuống chợ huyện. Có những ngày mưa, quần áo ướt sũng, chè bán được chẳng đáng bao nhiêu, nhưng ai cũng vui vì vụ chè năm ấy vẫn có người mua.

Đặng Văn Lòng giành giải Nhất cuộc thi chế biến chè Shan tuyết truyền thống tại Lễ hội miền chè di sản xã Cao Bồ năm 2026. Ảnh: NVCC.
Bây giờ, chiếc gùi vẫn còn trên vách nhà, nhưng bên cạnh đã là chiếc máy tính, chiếc điện thoại thông minh và những thùng hàng được đóng gói cẩn thận. Lòng học cách chụp ảnh sản phẩm, viết nội dung giới thiệu, mở gian hàng trên sàn thương mại điện tử. Mỗi lần điện thoại báo có đơn hàng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng, anh lại cẩn thận đóng gói từng túi trà Shan tuyết vừa sao xong, gửi theo chuyến xe rời núi. Có những cân chè, Lòng bán giá lên tới 1 triệu đồng.
Học theo Lòng, nhiều nhà đã biết làm trà sạch, xây dựng sản phẩm OCOP, đầu tư bao bì đẹp, học cách bán hàng qua mạng, mang theo câu chuyện làm trà của người Dao, của Cao Bồ đến với những vùng đất xa xôi.
Chiều buông xuống Tây Côn Lĩnh, mây từ những thung sâu lại chậm rãi dâng lên ôm lấy đỉnh núi. Dưới tán rừng già, những cây chè Shan tuyết cổ thụ vẫn đứng đó đón bóng hoàng hôn. Trong mỗi lớp vỏ xù xì, từng cành lá phủ rêu ấy đã cùng những người Dao một đời giữ rừng, giữ chè, nuôi lớn khát vọng đưa cây chè vượt qua bóng núi, đổi thay số phận bản làng.
Hiện nay, diện tích chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi của tỉnh Tuyên Quang khoảng trên 7.029 ha, phân bố trên địa bàn 29 xã, phường của tỉnh. Trong số này đã có 1.629 cây tại 19 xã đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường