Gieo “sự sống” trên quê hương cách mạng
Mỗi độ xuân về, phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” lại được triển khai rộng khắp. Xuân Bính Ngọ 2026, tại xã Tân Trào, UBND tỉnh phát động Tết trồng cây, xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, mỗi cán bộ, đảng viên gương mẫu đi đầu, đoàn viên, thanh niên phát huy sức trẻ phủ xanh những triền đồi, bãi đất trống. Từ cơ quan, đơn vị, xã, phường đến từng thôn, bản, phong trào được hưởng ứng mạnh mẽ. Toàn tỉnh đã tổ chức 429 điểm phát động, thu hút trên 27 nghìn người tham gia. Qua đó, 171 nghìn cây được trồng mới, tương đương 130 ha, mở ra chu kỳ sinh trưởng mới, tiếp thêm màu xanh quê hương.
Cán bộ Hạt Kiểm lâm khu vực XVI tuần tra, đối chiếu bản đồ rừng, nắm chắc hiện trạng, xử lý vi phạm ngay từ cơ sở.
Đồng chí Dương Minh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Tân Trào chia sẻ: “Rừng Tân Trào không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là chứng nhân lịch sử, ghi dấu những sự kiện trọng đại của dân tộc. Việc tỉnh phát động “Tết trồng cây” tại đây mang ý nghĩa vừa tri ân quá khứ, vừa thể hiện trách nhiệm với tương lai. Mỗi cây xanh được trồng hôm nay góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, làm giàu thêm cảnh quan, tạo nền tảng để phát triển du lịch bền vững tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt. Giữ rừng Tân Trào cũng chính là giữ gìn giá trị lịch sử và phát huy tiềm năng vùng đất cách mạng”.
Với tỷ lệ che phủ rừng hơn 62%, đứng thứ 3 toàn quốc, phong trào trồng rừng là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững. Qua đó, tỉnh khẳng định quyết tâm bảo vệ môi trường sinh thái, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và từng bước xây dựng thương hiệu “thủ phủ” rừng của cả nước. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới 13.700 ha rừng, tăng 10% so với năm 2025. Cùng với mở rộng diện tích, các mô hình, cách làm hay trong bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được nhân rộng, tạo sức lan tỏa từ cơ sở.
Nổi bật là chương trình “Vành đai xanh biên cương” do Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương trồng gần 60 nghìn cây xanh dọc các tuyến biên giới phía Bắc. Tại Đồn Biên phòng Sơn Vĩ, từ đầu năm 2025 đến nay, đơn vị đã trồng gần 8 nghìn cây xanh trên các khu đất trống trên địa bàn được giao quản lý. Việc phủ xanh biên giới góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế xói mòn, từng bước xây dựng vành đai xanh vững chắc, gắn nhiệm vụ bảo vệ rừng với củng cố thế trận biên phòng toàn dân nơi tuyến đầu Tổ quốc.
Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác trồng rừng vẫn còn những hạn chế. Ở một số nơi còn biểu hiện chạy theo phong trào, nặng về hình thức, chú trọng số lượng hơn chất lượng; việc chăm sóc, bảo vệ sau trồng chưa đồng bộ nên tỷ lệ cây sống chưa cao. Cơ cấu giống còn thiên về cây mọc nhanh, giá trị kinh tế ngắn hạn, trong khi cây bản địa - yếu tố quan trọng bảo đảm cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học chưa được quan tâm đúng mức. Cùng với đó, tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, sâu bệnh gia tăng, đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng rừng trồng để phát triển bền vững, lâu dài.
Rừng trong tâm thức cộng đồng
Trên vùng quê cách mạng, những cánh rừng vẫn vươn xanh không nhờ hàng rào thép hay biển cấm, mà nhờ vào luật bất thành văn - “hương ước giữ rừng”. Ở nhiều bản làng, nghi lễ cúng rừng đầu năm vẫn được duy trì trang trọng, như một lời cam kết thiêng liêng với núi rừng. Những phong tục ấy đã được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tiêu biểu như lễ cúng rừng của người Nùng xã Thàng Tín, người Pu Péo tại Phố Bảng, người Phù Lá ở Xín Mần…
Vào ngày 2/2 âm lịch hằng năm, người Nùng xã Thàng Tín lại tổ chức lễ cúng thần rừng “Mo Đổng Trư” tại khu rừng cấm của bản. Theo quy ước cộng đồng, nơi đây tuyệt đối không được chặt cây, lấy củi hay săn bắt thú rừng. Quan niệm “rừng thiêng - rừng cấm - rừng đầu nguồn” đã ăn sâu vào tâm thức, trở thành sợi dây kết nối ý thức người dân. Ông Tải Chẩn Thài, người dân thôn Thu Mưng, cho biết: “Mỗi năm, bà con chuẩn bị lễ vật dâng lên thần rừng để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng bình yên. Chính phong tục này đã giúp chúng tôi tạo ra lá chắn mềm bảo vệ rừng, khuyến khích cộng đồng sống hài hòa với thiên nhiên, gìn giữ nguyên vẹn màu xanh của rừng”.
Trong đời sống tinh thần của người Lô Lô, rừng không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là phần thiêng liêng gắn với cội nguồn dòng tộc. Với họ, rừng là nơi trú ngụ của thần linh, giữ mạch nước nuôi sống bản làng, phục vụ canh tác nông nghiệp. Mỗi làng người Lô Lô đều có một khu rừng thiêng, tuyệt đối kiêng kỵ chặt phá. Những quy ước như vậy không chỉ là luật tục mà còn là chuẩn mực đạo đức truyền đời.
Anh Tống Minh Vương, Công ty Du lịch Dân gian chia sẻ: “Người Lô Lô, rừng thiêng gắn với tổ tiên, với đôi trống đồng - biểu tượng linh hồn của dòng tộc. Giữ rừng vì thế vừa tuân thủ luật tục, vừa gìn giữ cội nguồn và bản sắc. Không riêng người Lô Lô, nhiều dân tộc vùng cao cũng coi rừng là nơi trú ngụ của thần linh, là nguồn sống của bản làng. Chính niềm tin ấy đã tạo nên ý thức tự giác bảo vệ rừng, giúp màu xanh đại ngàn được gìn giữ qua nhiều thế hệ”.
Lực lượng kiểm lâm tỉnh phối hợp chính quyền xã Hồng Thái tuyên truyền cho người dân về chính sách bảo vệ, phát triển rừng.
Giữ rừng bằng ý chí và trách nhiệm
Toàn tỉnh hiện có hơn 900.000 ha rừng, trong đó gần 621.000 ha rừng tự nhiên. Giữ được màu xanh ấy là sự hy sinh thầm lặng của lực lượng kiểm lâm. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung - “ngôi nhà” của loài Voọc mũi hếch quý hiếm, những bước chân kiểm lâm vẫn lặng lẽ băng rừng gìn giữ hệ sinh thái. Đồng chí Khổng Văn Quang, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu vực V cho biết, đơn vị đang quản lý hơn 70.000 ha rừng trên địa bàn 5 xã, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn. Anh em thường xuyên tuần rừng dài ngày, băng núi, vượt suối, trực 24/24 giờ, sẵn sàng xử lý các tình huống phát sinh, bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng tự nhiên, giữ gìn môi trường sống an toàn, lý tưởng cho loài Voọc mũi hếch và nhiều loài động, thực vật quý hiếm khác.
Không riêng Hạt Kiểm lâm Khu vực V, tại nhiều địa bàn khác trong tỉnh, sự chủ động và tinh thần trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm đã tạo nền tảng để công tác bảo vệ rừng lan tỏa thành phong trào chung, thu hút sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, chính quyền và người dân. Nằm trên vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán với hơn 5.400 ha rừng tự nhiên được ví như “lá phổi xanh” điều hòa khí hậu giữa miền đá xám. Địa hình núi đá tai mèo hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt nhưng những tổ tuần tra vẫn bám rừng, kiểm soát chặt các khu vực trọng điểm, kết hợp tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên. Chính sự bền bỉ ấy đã góp phần giữ vững màu xanh giữa đại ngàn đá, bảo tồn hệ sinh thái đặc hữu và nguồn nước cho cộng đồng vùng cao.
Đồng chí Đào Duy Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Địa bàn quản lý rộng, rừng phân bố trải dài, trong khi lực lượng còn mỏng nên mỗi cán bộ phải phụ trách diện tích lớn. Nhiều chuyến tuần tra kéo dài một đến hai ngày, cán bộ phải ăn, ngủ giữa rừng. Những bữa cơm vội, giấc ngủ tạm trong lán dã chiến đã trở thành công việc thường nhật. Nhưng mỗi cung đường tuần tra cũng là sự khẳng định tinh thần trách nhiệm, quyết tâm bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm”.
Mùa xuân đang hiện hữu trên những triền núi, những mầm cây non lặng lẽ bật lên từ đất ẩm, mở ra một chu kỳ xanh mới cho đại ngàn. Giữ rừng chưa bao giờ là việc nhẹ nhàng; mỗi bước chân tuần tra là một hành trình bền bỉ của ý chí và trách nhiệm. Khi chính quyền, lực lượng kiểm lâm và người dân cùng chung quyết tâm, màu xanh đại ngàn sẽ mãi được gìn giữ, lan tỏa qua từng thế hệ, trở thành nền tảng vững bền cho sinh kế bền vững cho người dân.
Giữ rừng từ bảo tồn hệ sinh thái

Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Điển
Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Giữ rừng cần được tiếp cận theo hướng toàn diện, coi rừng là một hệ sinh thái thống nhất chứ không đơn thuần là trữ lượng gỗ. Một cánh rừng chỉ thực sự được bảo tồn khi đất rừng được giữ ổn định, nguồn nước được bảo vệ, thảm thực vật và hệ động vật hoang dã được duy trì, đồng thời sinh kế của cộng đồng sống dựa vào rừng được đảm bảo. Nếu chỉ dừng lại ở việc bảo vệ cây rừng mà xem nhẹ chức năng điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, hạn chế lũ quét và bảo tồn đa dạng sinh học thì đó chưa phải là bảo tồn đúng nghĩa. Thực tế cho thấy, khi hệ sinh thái rừng suy giảm, hệ lụy không chỉ dừng ở môi trường mà còn tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, an ninh nguồn nước và đời sống người dân vùng cao.
Tiềm năng phát triển lâm nghiệp ở Tuyên Quang rất lớn, trở thành một “trụ đỡ” cho nền kinh tế và an sinh xã hội. Tuy nhiên, phát triển không thể theo hướng khai thác bằng mọi giá. Nếu chúng ta đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn sẽ kéo theo chi phí phục hồi sinh thái, cải tạo đất và khắc phục thiên tai cao hơn nhiều lần so với chi phí bảo vệ ban đầu. Vì vậy, kinh tế xanh trong lĩnh vực lâm nghiệp phải dựa trên nguyên tắc khai thác hợp lý, trong giới hạn tái tạo của tự nhiên, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và gìn giữ hệ sinh thái lâu dài.
Phát huy truyền thống Tết trồng cây
Đồng chí Mai Thị Hoàn
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường
Hơn sáu thập kỷ qua, Tết trồng cây do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã trở thành nét đẹp văn hóa mỗi độ Xuân về. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, phong trào ấy tiếp tục khẳng định ý nghĩa chiến lược đối với môi trường, sinh kế và phát triển bền vững đất nước. Những năm gần đây, biến đổi khí hậu và thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, cực đoan, bất thường, tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế-xã hội, môi trường và hệ sinh thái; đe dọa mục tiêu phát triển bền vững. Cùng với đó, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, kéo theo áp lực lớn đối với môi trường sống. Năm 2026, tỉnh Tuyên Quang phấn đấu trồng 13.700 ha rừng tập trung; tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,2%...
Từ “lá phổi xanh” đến sinh kế bền vững

Đồng chí Thèn Văn Quân
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Đồng Tâm
Đại hội Đảng bộ xã Đồng Tâm lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định rõ bảo vệ rừng và phát triển kinh tế từ rừng là chỉ tiêu quan trọng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với hơn 4.700 ha rừng sản xuất, tỷ lệ che phủ đạt 74,2% và trên 6.740 ha rừng tự nhiên được giữ ổn định, rừng chính là nền tảng để Đồng Tâm phát triển bền vững. Quan điểm của xã là phải làm cho người dân thấy rõ rừng không chỉ là “lá phổi xanh”, mà còn là nguồn vốn sinh kế bền vững. Vì vậy, chúng tôi đẩy mạnh tuyên truyền, cụ thể hóa các chương trình phát triển lâm nghiệp của tỉnh, giao trách nhiệm đến từng thôn, từng hộ nhận khoán. Người dân vừa là chủ thể bảo vệ rừng, vừa là người hưởng lợi từ rừng. Song song đó, xã chủ động thu hút doanh nghiệp liên kết đầu tư, mở rộng sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, phát triển lâm sản ngoài gỗ và dịch vụ môi trường rừng. Qua đó tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Khi chính sách được cụ thể hóa bằng mô hình, bằng sinh kế thực tế, người dân sẽ đồng thuận giữ rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng bền vững.
Còn nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ rừng
Đồng chí Phạm Hồng Nhật
Đội trưởng Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số I, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang
Tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng tại tỉnh Tuyên Quang vẫn diễn ra phức tạp. Các đối tượng sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn hoạt động tinh vi, xảo quyệt thực hiện hành vi phạm tội và đối phó với lực lượng chức năng. Lực lượng Kiểm lâm và bảo vệ rừng chuyên trách còn mỏng, địa bàn quản lý rộng, ranh giới các loại rừng còn chưa rõ ràng nên hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng của các lực lượng chức năng chưa cao. Công tác phân loại cắm mốc ranh giới, phân định các loại rừng, lâm phần của các chủ rừng trên thực địa chưa rõ ràng, dẫn đến việc người dân không thể phân biệt được rừng canh tác sản xuất và rừng do nhà nước quản lý. Thời gian tới, các đơn vị trong tỉnh sẽ tiếp tục tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp trong công tác bảo vệ rừng, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng vi phạm; phổ biến, triển khai kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành trong lĩnh vực lâm nghiệp; rà soát các phương án, kế hoạch để triển khai thực hiện nhiệm vụ có trọng tâm, trọng điểm.
Giữ rừng bằng hương ước, quy ước

Ông Bàn Văn Lương
Người có uy tín thôn 4, xã Thái Sơn
Hương ước, quy ước có vai trò quan trọng, là thiết chế tự quản trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Việc phát huy tốt vai trò của hương ước, quy ước thôn bản góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội tại cộng đồng dân cư, tăng thêm tinh thần gắn kết cộng đồng, thay đổi nếp nghĩ, cách làm cho đồng bào, đặc biệt trong việc giữ và bảo vệ rừng.Việc thực hiện hương ước, quy ước giúp bà con ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, không gây ô nhiễm môi trường, vận động bà con ăn ở hợp vệ sinh, bài trừ hủ tục, hình thành những giá trị chuẩn mực xã hội phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc, phát huy tính dân chủ tại cơ sở, đồng thời góp phần xây dựng nếp sống văn minh trong cộng đồng dân cư.
Nguồn: Báo Tuyên Quang