Việc thiếu hụt vật liệu xây dựng trong thời gian qua đã trở thành “điểm nghẽn” lớn đối với tiến độ nhiều công trình hạ tầng, dự án trọng điểm trên cả nước. Trong bối cảnh đó, Nghị định số 21/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa pháp lý quan trọng, góp phần tháo gỡ khó khăn và đưa hoạt động khai thác khoáng sản đi vào nền nếp, minh bạch hơn.
Hoạt động khai thác khoáng sản đồng (vàng) được triển khai tại mỏ Sin Quyền (Lào Cai cũ, nay là Yên Bái). Ảnh: Văn Nguyên.
Bổ sung quy định mới, bám sát thực tiễn
Nghị định số 21/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP - văn bản quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản và quy định chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản. Điểm đáng chú ý nhất của Nghị định lần này là việc bổ sung quy định hoàn toàn mới về cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường để phục vụ các công trình, dự án quy định tại Điều 55 của Luật Địa chất và khoáng sản.
Theo đó, Nghị định 21 đã sửa đổi, bổ sung Điều 61 của Nghị định 193, làm rõ hơn các điều kiện để tổ chức, cá nhân được xem xét cấp giấy phép khai thác khoáng sản. Không chỉ kế thừa các yêu cầu chung của Luật, Nghị định mới còn cụ thể hóa những tiêu chí về năng lực, trách nhiệm môi trường và an toàn kỹ thuật, những yếu tố vốn được coi là “xương sống” của khai thác khoáng sản bền vững.
Cụ thể, tổ chức, cá nhân xin cấp phép phải có quyền sử dụng hợp pháp thông tin, kết quả thăm dò khoáng sản; có hồ sơ chứng minh năng lực tài chính phù hợp với dự án đầu tư khai thác. Đồng thời, dự án phải được chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công hoặc đối tác công tư, trong những trường hợp pháp luật có yêu cầu.
Bên cạnh đó, các yêu cầu về môi trường tiếp tục được đặt ra một cách chặt chẽ. Chủ dự án phải được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc được cấp giấy phép môi trường theo quy định. Với những trường hợp khai thác khoáng sản phóng xạ hoặc có chứa chất phóng xạ đi kèm, Nghị định cũng yêu cầu phải có ý kiến bằng văn bản về kết quả thẩm định an toàn theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử.
Việc ban hành Nghị định số 21 nhằm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, qua đó tiếp tục cụ thể hóa đầy đủ các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản, nhất là tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị. Nghị định cũng bảo đảm sự thống nhất với các chính sách, pháp luật hiện hành, đồng bộ với Nghị định số 136/2025/NĐ-CP về phân cấp, phân quyền và Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024.
Những điều chỉnh trong Nghị định 21 cũng nhằm kịp thời đáp ứng các kiến nghị của địa phương, doanh nghiệp theo chỉ đạo tại Công điện số 130/CĐ-TTg năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư, tiến độ các dự án đầu tư công và hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên.
Nghị định số 21 hướng tới đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó có việc cắt giảm các thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với những mỏ đã đấu giá; đồng thời tháo gỡ các rào cản pháp lý, giải quyết những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thi hành Nghị định số 193/2025/NĐ-CP.
Một điểm đáng chú ý khác của Nghị định 21 là việc tiếp tục làm rõ cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý khoáng sản. Theo đó, một số thẩm quyền trước đây thuộc Thủ tướng Chính phủ được giao cụ thể hơn cho Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh, phù hợp với tinh thần cải cách hành chính và tăng tính chủ động cho địa phương.
Cùng với đó, các quy định liên quan đến quản lý khoáng sản chiến lược như đất hiếm cũng được điều chỉnh, bổ sung để bảo đảm thống nhất với Luật Địa chất và khoáng sản. Điều này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn tạo nền tảng pháp lý cho việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên chiến lược, quan trọng trong dài hạn.
Sản xuất đá ở Quý Lộc. Ảnh: Tuyết Trang.
Về khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường để cung cấp nguyên liệu, vật liệu cho các công trình, dự án quy định tại Điều 55 của Luật Địa chất và khoáng sản và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản, chính sách này miễn trừ nhiều thủ tục hành chính đối với khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường và khoáng sản nhóm IV phục vụ các công trình, dự án ưu tiên, nhằm tháo gỡ khó khăn về nguồn cung vật liệu. Đây là một sự thay đổi lớn so với Luật Địa chất và khoáng sản.
Đặc biệt là việc làm rõ các thủ tục về môi trường và đầu tư. Nghị định 21/2026/NĐ-CP quy định, tổ chức, cá nhân phải có có Hồ sơ dự án (đối với nhóm III) hoặc Phương án khai thác (đối với nhóm IV) với nội dung về kỹ thuật an toàn, bảo vệ môi trường, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường nhằm tăng cường quản lý rủi ro ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư; khắc phục tình trạng hồ sơ lập hình thức, thiếu căn cứ kiểm soát an toàn và môi trường trong thực tiễn. Đồng thời, quy định nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư, bảo đảm thống nhất với pháp luật về môi trường, an toàn lao động và góp phần khai thác khoáng sản hợp lý, an toàn và bền vững.
Đây được xem là biện pháp cần thiết nhằm hạn chế các hệ lụy tiêu cực, nhất là trong bối cảnh nhiều địa phương đang chịu áp lực lớn từ hoạt động khai thác khoáng sản phục vụ xây dựng.
Nghị định 21/2026/NĐ-CP giúp hệ thống pháp luật về địa chất và khoáng sản ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, hạn chế những cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các địa phương.
Khi quy định cụ thể, minh bạch hơn, cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp đều thuận lợi trong quá trình triển khai. Đây là tiền đề quan trọng để vừa bảo đảm nguồn vật liệu cho phát triển, vừa nâng cao trách nhiệm trong khai thác, sử dụng tài nguyên.
Ngoài các quy định về khoáng sản nhóm III, Nghị định 21/2026/NĐ-CP còn Cập nhật quy định về thăm dò xuống sâu, mở rộng dành cho cá nhân, tổ chức đang khai thác hợp pháp; quy định về năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép thăm dò phải bảo đảm 100% dự toán đề án thăm dò và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ năng lực tài chính. Đồng thời điều chỉnh các quy định về thăm dò, khai thác, chế biến và bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bao gồm cả đất hiếm.
Đọc bài viết gốc tại đây
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường